Thanh Tâm Tuyền – Ký họa Duy Thanh 1956

Siêu thực, tượng trưng, xã hội, ba nguồn mạch khác nhau cùng chảy vào phá nước thi ca Thanh Tâm Tuyền. Ở phá nước lợ và xoáy trốt ấy, người đọc thơ vừa gian nan vừa lý thú như chiếc thuyền nan tìm lối ra biển. Đọc thơ không còn là chuyện thanh thản, êm ái, vì phải giác đấu vô cùng tận với chữ nghĩa, câu kéo Thanh Tâm Tuyền. Người chủ soái dòng thơ tự do của nhóm Sáng Tạo.

Thực ra, thơ tự do đã khởi phát từ thời cách mạng mùa thu 45. Ở những giai kỳ lịch sử, khi tâm hồn toàn thể quần chúng bị xáo trộn dữ dội, thi ca — dự báo của ý thức và tư tưởng — lại lột xác đi tìm ngữ thức mới bộc lộ. Suốt bốn năm (45-49) cao trào cách mạng và kháng chiến sục sôi, hình thức thơ tiền chiến bể vụn như chiếc phẫu thủy tinh hết dung chứa nổi khối lượng đường phèn rỏ chảy. Như con sông trong xanh lặng lờ bỗng thác nguồn tuôn lũ lụt, dềnh lan hai bờ, dềnh ngập làng mạc ven sông. Ý, chữ, câu, cuồn cuộn tung thơ, chảy thành dòng cuồng nhiệt xôn xao. Bài thơ cứ thế dài lênh, thoáng, đầy, theo những chuỗi chữ so le bất tận. Thời điểm loạn ly ấy, người ta không thể nói ngắn, không thể viết đằm. Ngọn núi lửa đang phun không có kiến trúc.

Ngoài lý do lịch sử, còn sự kiện một số người mãi đòi hỏi chỗ đứng. Đội ngũ làm thơ đông lên, và trẻ. Họ phải có mặt để nói lên tâm thức thời đại. Họ không muốn, hoặc chưa thể, làm những bài thơ đã đạt vị kiểu tiền chiến. Sự cần thiết có mặt, có danh, khiến họ nỗ lực khai phá một thể thức diễn đạt mới. Người thì cố chôn dìm, người nhắm vượt lớp thi nhân đi trước. Thơ tự do ra đời. Ý lực phủ nhận thơ tiền chiến đã được nổi đuốc bởi nhiều thi sĩ trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến giành độc lập (45 – 49) còn nồng tình tự dân tộc và chưa bị mác-xít hóa. Nhiều tác phẩm thành công khai lối cho thơ tự do. Đó là trường hợp của những Hoàng cầm, Hữu Loan, Quang Dũng, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Hồng Nguyên… Nhưng ở những người này và thời đó, thơ tự do chảy xuống từ thượng lưu ca dao.

Trường hợp Thanh Tâm Tuyền khác.

Thơ tự do của Tuyền không bắt nguồn từ ca dao, mà đến từ những tư trào cách mạng trong thi ca và văn học Tây phương. Thi ca như trí tuệ chiếu phá vào bản thể chữ. Thơ không chỉ nhìn vào đoàn thể, thế giới, đất nước, thể chế chính trị, thơ nhắm ngó vào con người thành phố qua màn lọc triết lý hiện sinh. Con người tự giết mình thường trực để sống. Nghịch lý đấy, nhưng là con người thực của Tuyền, mẫu thi nhân thời đại mới : không thỏa hiệp, không luồn cúi, bợ đỡ, sống vỡ bờ từng giây, từng phút, từng hơi thở, từng ý nghĩ, từng thao tác, cử chỉ. Thi sĩ là kẻ nổi loạn. Nhưng không phản loạn. Nổi loạn trước đạo đức giả, gian dối, trước bất công, ngu muội, trước độc tài, phi nghĩa.

Người đọc thơ cũng thế. Chưa dám thoát ly điệu sống tầm thường cầu an, chưa dám nổi loạn, cách mạng, thì khó theo kịp tiếng trống gọi của thi ca để lên đường qua sông.

Cuộc sống hiện tại mà mọi người công nhận vốn đã là cảnh độ mường tượng trong não trí thi nhân trước kia, lúc thế nhân còn chê trách hay cười diễu, chống đối.

Thi nhân luôn đi trước thời đại. Hắn báo hiệu, như một ngọn đèn pha quét vào u minh. Cũng vì thế, kẻ đọc thơ Thanh Tâm Tuyền ngày nay dễ bị dội ra. Với họ, còn quá sớm để cảm thấu ngữ điệu mới với những hình ảnh bất thường dày đặc trong thơ :

Đêm giao thừa thế kỷ mưa rơi sao
mái sáng đường nằm chiêm bao biển giận dỗi
bàn tay mây mắt trăng môi nhiệt đới
chiến tranh còn những khoảng đất hoang
cửa sổ đập lên cao cánh chim én mùa xuân
ôm vào lòng bãi cỏ vườn hoa bầy sao rụng
ai hỏi anh ngoài hàng dậu
lãng mạn lập thể siêu thực dã thú đa đa
tôi mở những trái cây vườn nhà
cử chỉ trữ tình tinh khiết
những bước đi văn nghệ chim sẻ
màu ngói nâu dựng vực mắt nâu
 
tôi ru chim ngủ trong cổ họng
mặt trời kêu xuống thái dương những màu ánh sáng thơm
tim kinh ngạc
đời tạo câu cười thiên nhiên mai
hy vọng đứng ra ngoài ô ngục ngực bâng khuâng
lần gặp gỡ thứ nhất
 
rồi kỷ niệm kim khí thủy tinh hành hạ
đau xé trời đêm không sao bánh máy quay vũ khí
tôi chổi từ giam cầm chim đẹp trong rừng tóc
dù tiếng hót đã chọn mấy hàm răng
người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường
về quá khứ
chim bay vào trận mưa sao.

(toàn bài Chim, trong Tôi không còn cô độc)

Phải xua đuổi, gột rửa mười lăm thế kỷ đọc thơ Việt, mới yêu thích được bài trích trên đây. Thơ hết là những vóc nhạc gọn, tròn. Những câu dài ngắn so le, hết mang ý nghĩa của dấu chấm, dấu phết. Toàn những hình ảnh họp chợ trong bài thơ. Và hình ảnh này là bản đồ của thế giới tiềm thức, nếu không là siêu thực. Nơi quá khứ bí ẩn đang chói lọi. Nhưng cũng có thể là hình ảnh báo hiệu sẽ hiện ra trong tương lai trên trái đất hay nơi tinh cầu nào. Hình ảnh hiện ra theo lối so sánh, hay đồng hóa. Mỗi hình ảnh thoát vượt bài thơ để lập thành một bài thơ mới. Thơ trong thơ. Và thơ điêu khắc ra hình ảnh, nơi phát nguồn cho ý. Từng hình ảnh khai triển không gian và thời gian nó để tạo từng khí hậu, từng động lực vận chuyển ý tưởng. Người đọc thơ là kẻ đứng trước cảnh vật hùng vĩ hay bi thương. Đôi mắt bắt một loạt sự vật đồng đẳng. Sự vật chen chúc sự vật. Từ đó tia ra những ý tưởng, những giao cảm, những liên hệ, những nhận thức. Thi ca thành sân khấu diễn tập những khởi đầu các thân phận dưới thế. Mọi hình ảnh hiện ra đều mới, và lần đầu. Trong dòng thi ca ấy, Thanh Tâm Tuyền đòi hỏi người đọc thoát ly quá khứ, cắt lìa kiến thức, thiên kiến, trước khi bước vào vườn thơ Tuyền. Tuyền cũng đã tự yêu sách mình như vậy : giết cái ta tha hóa từng phút để phục sinh mà sống thơ hay sống đời :

Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
cho đứa nhỏ linh hồn
sợ chó dữ
con chó đói không màu
 
tôi buồn chết như buồn ngủ
dù tôi đang đứng bên bờ sông
nước đen sâu thao thức
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
em bé quàng khăn đỏ ơi
này một con chó sói
thứ chó sói lang thang
 
tôi thèm giết tôi
loài sát nhân muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh
 
từng chuỗi cuộc đời tiếp nối
nhân loại không tha thứ tội giết người
bọn đao phủ quỳ gối
giờ phục sinh
 
tiếng kêu là kinh cầu
những thế kỷ chờ đợi
 
tôi thèm sống như thèm chết
giữa hơi thở giao thoa
ngực cháy lửa
tôi gọi khẽ
em
hãy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật.

(toàn bài Phục sinh, trong Tôi không còn cô độc)

Ba mươi chín câu thơ với những ngữ danh thường nhật của trái đất : phố, nắng, tôi, chiều, sao, chuông, đứa nhỏ, linh hồn, chó, sông, nước, tội lỗi, chó sói, cổ, nhân loại, người, đao phủ, tiếng kêu, kinh cầu, thế kỷ, hơi thở, ngực, lửa, cửa, tâm hồn, sự thật. Ngần ấy chữ xích lại cùng nhau bằng mấy động từ cũng cũ như trái đất : gọi, vỡ, xin, thao thức, hét, lang thang, giết, gào, bóp cổ, tha thứ, chờ đợi. Thế rồi giữa sự lập lại muôn đời của nhân sinh ấy, Tuyền hiện ra với Nghệ thuật đen (1) của mình, đưa bộ ba thèm muốn của loài người — thèm giết, thèm chết, thèm sống — sang bước ngoặt mới. Bước ngoặt này đánh dấu cuộc khủng hoảng thế kỷ, nơi con người không biết làm gì khác ngoài bốn cử điệu buồn khóc, buồn nôn, buồn chết, buồn ngủ. Âm ngữ buồn bâng khuâng, man mác, bỗng vợi xuống, ngã vào vực đáy vô tận hư vô. Đơn vị người cường toan ra giọt lệ, nôn mửa, tử thần, hay giấc ngủ. Người thiếu mặt ở cuối con đường buồn.

Nếu chỉ có thế, Tuyền đã chết. Bài thơ thành vô vọng như tiếng chim chiều cản núi hoàng hôn. Không. Tuyền đòi hỏi phục sinh. Ba mươi chín câu thơ dàn binh bố trận không để đánh phá cuộc đời, hay tự kỷ tôn vinh, mà để gọi lên một tiếng, đón tiếp một người, tụng ca một sắc diện thiếu vắng giữa cuộc sống, và biệt tăm nơi tâm thức : Em. Một chữ thôi. Mang đầy hình và dáng. Chữ ấy nằm ở dòng thứ ba mươi sáu. Trơ trọi. Nhưng đã là vị thế trung tâm. Em là trọng tâm của bài thơ. Không có chữ ấy, bài thơ đổ vỡ. Nhưng thiếu cái kiến trúc trùng điệp bi thảm của ba mươi lăm dòng trên, thì chữ ấy khó hiện ra trọn vẹn và toàn thể như một thi ngữ, chứ không là từ ngữ thiếu máu, liệt nghĩa, gọi kêu vô vọng nơi đời sống mỗi ngày.

EM. Tiếng gọi, tiếng kêu, mà cũng là tiếng cứu. Xòa ầm như sấm nắng mặt trời vứt xuống vùng đen thẳm. Đó là ý nghĩa phục sinh. Tuyền bóp cổ giết một Tuyền ngu muội, đạo đức giả, tàn ác, chán chường, để sống lại thành trẻ thơ — con người mới — trong sạch như một lần sự thật. Làm gì có một con người riêng biệt, cố định, mang tên Thanh Tâm Tuyền từ đầu đời tới cuối đời ? Làm gì có một tế bào không thay không chết ? Đã có rất nhiều Tuyền trong một Thanh Tâm Tuyền liên lỉ chuyển biến, chuyển hóa qua dòng sống. Tuyền chết đi để sống lại. Nếu Tuyền không giết Tuyền để phục sinh trong sạch, thì đời và xã hội cũng sẽ giết Tuyền một cách bẩn thỉu và hèn mạt bằng những mạng lưới biến chất hay tha hóa. Có ai tránh thoát đâu. May thay EM là đầu mối cho những lần tái sinh. Em là Người Tình hay em là một lần Sự Thật — chân lý — thì cũng thế.

Em
hãy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật.
(Phục sinh, bđd.)

Sự phân đôi nhập một. Khổ nạn của đời người biến tan. Niềm tha hóa đã nhân hóa để kết tinh vào tình yêu và trí tuệ như nhất.

Nghệ thuật đen (1) mà Tuyền kêu gọi chính là phản ứng nổi loạn khi chưa gặp Em, khi Em chưa mở cửa. Tuyền nổi loạn chống các nhà đạo đức, người văn minh, và những người mác-xít : Ba hạng người chỉ nhìn thấy vấn đề trên bình diện xã hội.(…) Lối giải thích văn chương nghệ thuật bằng xã hội chỉ giữ người ta đứng ở bên ngoài mà la lối hò hét với những thiên kiến và chỉ nạt nộ được những kẻ yếu bóng vía hay vô ý thức (1). Nghệ thuật đen Tuyền tuyên dương là khởi nguyên của ý thức là mầm mống của thay đổi, của sáng tạo (…) là điều kiện cho một nhận thức sâu xa hơn về đời sống, rũ bỏ những huyễn ảnh của kẻ bấy lâu ngồi trong hốc đá chỉ nhìn những bóng chiếu in trên vách mà tưởng là sự thật. (…) Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một sự khởi đầu. (…) Nghệ thuật là một lời kêu gọi, không là lời thuyết minh. (…) Nghệ thuật đen chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương bằng thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống. Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó xuồng xã dục tình, nó vô luân trắng trợn” (1).

Với Nghệ thuật đen Tuyền nói lên phản ứng nổi loạn của người thanh niên trước một xã hội sống bằng chiến tranh và tan vỡ vì chiến tranh những năm 50. Dù được mạo danh dưới những lý tưởng thần thánh nào. Tuy nhiên Tuyền khá lúng túng khi giải thích chữ siêu hình trong ý thức siêu hình mà Tuyền sử dụng như lực đối kháng của thi ca. Ta khó trách. Cần nhớ Tuyền viết Nghệ thuật đen năm 24 tuổi, viết Nỗi buồn trong thơ hôm nay năm 20 tuổi, viết Nhân nghĩ về hội họa năm 20 tuổi. Thế đã kinh khiếp. Sức đọc, sự hiểu biết thẩm thấu tiến trình văn học thế giới, và lực suy tư tổng hợp tới độ lập thuyết của Tuyền khá dị thường. Qua ba bài viết này. Đây là ba bài viết xác định con người ý thức của Tuyền, hiếm thấy trong giới thanh niên đồng lứa cùng thời.

Tuyền là thi sĩ lớn. Nhưng con người lập thuyết lấn át con người thơ khi Tuyền làm thơ. Đó là bi kịch của Tuyền. Dù bi kịch đó hùng tráng. Bằng cớ Tuyền đã đi trọn vẹn đường thơ mình, đánh được một mốc văn học. Nhưng những kẻ cuồng vọng Tuyền, làm thơ theo lối Tuyền, đều thất bại. Họ chẳng có bài thơ nào được để lại trong trí nhớ thi ca như Tuyền.

Khi Tuyền viết :

Những đêm nào chiến tranh đã quên
Con mắt đen niềm im lặng
Anh vẫn đi hoài trong thành phố
Cô đơn
Trưa nắng cháy
Vào sâu trong ghẻ lạnh
Với máu trong tim
Chảy nhanh như máy móc đau ốm
Ở cuối đêm
Em rũ tóc nói những lời mê sảng
Những ám hiệu
Của mặt biển đen không
Tình yêu tuyệt vọng
(trích Đêm, trong Liên đêm mặt trời tìm thấy)

thì thi ca Việt đã thực sự rẽ lối. Thi ca từ giã tháp ngà xuống đường đi bên với người thanh niên thất tình, thất đời, thất chí nơi xã hội vong tính. Nơi đó mộng mị không thể hiện hữu. Dòng thơ tiền chiến mất khí thế cứu tinh. Dù vẫn y một hoàn cảnh đôi lứa thất tình, như thuở thơ Phạm Hầu :

Yêu đương đến tất cả chiều mơ mộng
Buồn nhẹ nhàng trong làn khói thu không
Buồn miên man trên đầu tóc rối bòng
Và vơ vẩn bên đôi người vô tội
 
Nàng và tôi, nhánh sầu chung rễ cội
Kề vai nhau khi lệ với chiều rơi
Khi giọt sương âu yếm nhỏ lên người
Nàng và tôi là hai dòng lệ nối.
(Chiều buồn, Phạm Hầu)

Cùng Phạm Hầu ấy, cùng một tình yêu xa cách, nhớ nhung, tan vỡ trong dòng thơ tình yêu tiền chiến khát khao, ray rứt nhưng nhẹ nhàng :

Chẳng biết trong lòng ghé những ai ?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi, người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân vọng hải đài

Lòng xiêu xiêu hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai ?
(Vọng hải đài, Phạm Hầu)

Nhưng thời đại chúng ta bây giờ, với lòng này, tình này, ta còn yêu được một cảm giác xưa chăng ? còn đeo theo hình bóng giai nhân đã ngũ thập niên tiền… ? Bởi thế mới phải có thơ hôm nay. Như thơ Thanh Tâm Tuyền, khi Tuyền viết :

Anh xé tóc em cùng những cành lá chết
Mùa thu
Ghi thương tích nơi cườm tay
Khóa chặt
Anh xô ngã em từ chóp đỉnh hạnh phúc
Khuôn mặt vỡ tan
Như cẩm thạch
Như nước mắt
Như muôn đời
Không hối hận
Con đường anh phải đi
Trần truồng dã thú
Đón anh ở cuối đường
Hố sâu vĩnh viễn
Không có em.
(trích Đêm, trong Liên đêm mặt trời tìm thấy)

Qua hai tập thơ đã xuất bản, Tôi không còn cô độc (1956) và Liên đêm mặt trời tìm thấy (1964), Tuyền chứng minh bằng thơ sự lập thuyết văn học của mình. Càng về sau Tuyền càng ít làm thơ, chuyên qua văn. Văn Tuyền có nhiều chất thơ. Nhưng thơ Tuyền nhiều lúc đậm chất văn. Đây là nghịch lý của những nhà thơ nghiêng theo bán cầu não trái — lý trí, trí tuệ.

Sau năm 64, không còn tập thơ nào khác ra đời. Ngoại trừ một số bài cho in báo, chủ yếu trên tạp chí Văn vào những năm 70. Vẫn còn nguyên lối dụng chữ độc đáo, bật ảnh, và xoáy ý :

Ta nghe cỏ xanh um thầm níu giải chân đê lập cập
Trống dội vang triều nước đục bạt ngàn
Cây gạo già trơ đã buông rơi những bông đẫm máu
(Người hành khất trở về, Vấn Đề, Xuân Nhâm Tý 72)

Đá vách ngún mây kiêu bạc hống
Nhập nhòa tiếng ngậm bặt tang thương
(trích Đỉnh non xa, Giai phẩm Văn 3.9.74)

Vẫn em rừng lũng khuya trốt lộng
Ngút đen mắt lạc ruổi tin sương

Vẫn em dáng cây nghiêng nẻo khuất
Sương muộn ham mê thức lá buồn
(trích Vẫn em, Giai phẩm Văn 9.11.73)

Im tượng gỗ. Tiếng chân ai thoát chạy
Bỗng bâng khuâng thang cấp lượn mơ hồ

Kẻ lạ mặt bỗng đêm mai hoảng thức
Thấy ngôi nhà bằn bặt cháy như tim

Đồi bập bềnh trôi trên lũng biển trắng
Mái nhà ôm, nhô nóc hú gào người

Tình rầu rĩ kêu tiếng trầm cay đắng
Bóng vang hư, thoáng lịm như không
(Ngôi nhà đỏ, trăng hồng, Giai phẩm Văn 27.11.72)

Bây giờ lối phá nhạc trong thơ đã bớt. Các khổ câu so le không còn. Tuyền bắt đầu viết những đoạn thơ bốn câu, bảy hay tám chữ đều đặn. Như bài Ngôi nhà đỏ, trăng hồng sáng tác năm 72 là một ví dụ. Bài này gồm 6 biến khúc với 40 đoạn thơ bốn câu bảy hay tám chữ. Chẳng những thế, các dấu phết dấu chấm bắt đầu hiện ra trên thơ Tuyền, rất chi cẩn thận. Hết là thơ tự do, vì là thơ mới. Thơ mới ở đây lại chẳng thơ mới chút nào như thời tiền chiến. Vì nó chính là thơ tự do trở về nằm trong khuôn thơ mới. Như vì vua bỏ cung điện về nghỉ trong gian nhà cỏ góc núi. Sự kiện khá quan trọng đối với một nhà lập thuyết thơ tự do như Tuyền. Hồn đông phương như vừa chớm trong tâm tư mê hoặc tây phương kia ? Bị Tây phương mê hoặc là phải, một đất nước rộng trên ba trăm nghìn cây số vuông, cả một giống dân năm mươi mấy triệu người, một truyền thống văn minh bốn nghìn năm… bỗng dưng đưa ra làm sân đấu cho hai trào lưu Tây phương tư bản – cộng sản. Thử hỏi còn ai dám không a dua theo ? Thử hỏi còn giọng nói nào dám cất lên và khác đi ? Chỉ cậy trông vào người thi sĩ — kẻ ca hát muôn đời. Nhưng ai là thi sĩ trong nghĩa đó ?

Ta thử đọc những dòng thơ biến chuyển này của Tuyền. Vì nó báo động sự chuyển thức trong thi ca Tuyền, điều sẽ thấy rõ hơn ở giai đoạn sau 75, khi Tuyền bị đi tù cải tạo. Rõ hơn nữa, một ngày đẹp trời nào, khi ta được đọc hết sáng tác Tuyền trong giai đoạn Rừng đen màu địa ngục ấy.

Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng hạ.
Hạ nồng nàn quyến rũ môi hôn,
Gọi mưa mùa tắm gội xanh cỏ lá,
Dập tắt sầu thiêu đốt, phả du hương.
 
Mưa ngày qua, mưa ngày nay, xám ngắt.
Cửa đóng cài, cửa ẩm nước cô đơn.
Gõ lên đi ngón tay cung khờ khạo.
Nép đầu say, tóc rối mộng thầm.
 
Ngồi xuống ghế mộc bầy riêng lẽ.
Chiều bên vườn gợn sóng nắng sơ thu.
Im tượng gỗ. Tiếng chân ai thoát chạy.
Bỗng bâng khuâng thang cấp lượn mơ hồ.
 
Trèo dốc đứng, vội vàng hơi thở hụt.
Bậc đá mòn rợp tối phân vần.
Hồn đá níu thiên thu chót vót,
Ghì ôm sầu chớp sấm dội ngàn.
 
Theo lối khác. Giẫm dấu chân người lạ
Đất trượt trơn. Cây cối rõi trông tìm.
Trăng hồng sáng ngân nga lửa lạnh.
Nhà lao đao. Đồi rào rạt ngoan nằm.
 
Kẻ lạ mặt bỗng đêm mai hoảng thức,
Thấy ngôi nhà bằn bặt cháy như tim
Đồi giông gió lay trăng hồng lả thiếp.
Và hàm hồ buột giấc khóc êm.
 
Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng lạ.
Chiều úa tàn, trời tím buổi tinh sương,
Nắng hớn hở — nắng trong veo như mắt —
Mỉm cười xa, phố thấp, vẫy chàng.
Mái nghiêng cúi, ngói nâu đời cũ xỉn.
Trổ bông xưa, phơi đóa mộng dị kỳ.
Mộng vời vợi, chuỗi mưa điên xối xả.
Xuôi theo mưa giọt lệ chia lìa.
 
Tường ấp ủ hơi dồn nghìn giấc chết.
Nắng như trăng nhóm lửa bơ vơ.
Gương mặt héo chập chờn sau giậu đổ
Khuất dung nhan trong dáng ơ hờ.

Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng lả.
Trời vàm sông, bến quạnh gió mù tăm,
(Nước thao thức lòng sâu cuồn cuộn hút)
Nàng trở về lạc nẻo đêm rằm.
 
Những trận mưa, những trận mưa tầm tã
Đẩy trôi trăng ra biển im hơi.
Những giọt sương, những giọt sương giả lả
Lá khép thu, nương náu, kinh hời.

(trích Ngôi nhà đỏ, trăng hồng, bđd.)

Hôm ta từ núi cao đi xuống
Trời phả sương mê lạnh nhạt hờn
Đá vách ngủn mây kiêu bạc hống
Nhập nhòa tiếng ngậm bặt tang thưong.
 
Trắng phếu sườn non ngày mới chớm
Một đóa trăng tàn lẩn lút bay
Mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện
Lòng ta tạnh vắng như cỏ cây.
 
Dưới ngọn đèo xa loé nắng xưa
Phiêu bạt rừng già dìu dặt mưa
Triều lũng dựng xanh chốn gió đáy
Mang mang giọng điệu trí câm mù
 
Ta nhớ sau lưng núi thanh thản
Biếc ngây như lệ của đêm điên
Ta nhớ rằng ta không nhớ nữa
Như cây trơ trụi mùa hưu miên
 
Như phiến gỗ nặng thả theo nước
Bập bềnh trôi nổi ta về xuôi
Như lau lách mọc chen bờ bãi
Phất phơ tóc bạc lả theo trời.

(toàn bài Đỉnh non xa, bđd.)

Hơi thơ đã lạ. Đã chuyển. Có chút hơi hám Tô Thùy Yên trong một vài tứ, trong đôi chỗ cấu trúc biện chứng của thơ ?

Dẫu đã phục sinh thành con người mới, trẻ, ngang với sự thật từ năm 56 qua tập Tôi không còn cô độc, nhưng đến tập Liên đêm mặt trời tìm thấy in năm 64 (tuy sáng tác giai đoạn 56 – 60), một Thanh Tâm Tuyền đoan quyết vẫn chưa bước lên cuộc hành trình mới

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống giòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
(trích Bao giờ, Liên đêm mặt trời tìm thấy)

Vẫn còn cô đơn trong những chuyến đi chung

Nếu đã đi từ Hà nội xuống Hải Phòng hay sang Bắc Ninh
Nếu đã đi từ Sàigòn xuống Vĩnh Long hay lên Thủ Dầu Một
Chuyến xe vẫn chỉ thuộc một mình
Như kẻ say rót rượu lấy mà uống
Cho vui thêm cuộc hành trình
(trích Bao giờ, bđd.)

Cái gì, hay một nỗi em, đã trói Tuyền ?

Thời gian cháy tàn những đầu thuốc lá
Đừng trói anh vào trần gian bằng mắt em nhìn kia
(trích Đêm, bđd.)

khiến Tuyền

Đêm thức dậy mở mắt mắt đã mù
(Đêm, bđd.)

đành cứ phải

Chia tay cho ta đi như một loài cỏ cây điên dại
Như một hồn lang thang không gặp được bóng mình
(trích Thức giấc trong Liên đêm mặt trời tìm thấy)

cho tới ngày Tuyền thực sự tỉnh thức sau cơn phục sinh :

Đau như thú dữ cháy rừng
Ta đập tan hình hài và thức giấc.
(trích Thức giấc, bđd.)

Sự thức giấc của Tuyền, và một số khá đông văn nghệ sĩ ở miền Nam, dường như có liên hệ xa gần với chính biến 1963. Lúc ấy, nguồn hứng đến từ văn học Tây phương xem chừng đã cạn, đã khó phát triển trong một xã hội rực lửa chiến chinh tàn khốc. Phía văn hóa mác xít thì chỉ đẩy thanh niên xuống chiến hào, xua văn nghệ sĩ làm công cụ tuyên truyền. Văn học bí lối. Bỗng cao trào tranh đấu chính trị của Phật giáo mang tới vũ khí chưa từng xuất hiện từ đầu thế kỷ : Sinh thức mới cho văn học và tư tưởng. Nhiều văn nghệ sĩ chưa là phật tử, nhưng dấu vết của sinh thức phật khá căng trong tác phẩm họ. Bước ngoặt này thấy rõ qua thơ văn những Bùi Giáng, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Đức Sơn, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hòng, Tô Thùy Yên, v.v… Hẳn nhiên có cả Thanh Tâm Tuyền.

Là thi sĩ lớn. Nhưng Thanh Tâm Tuyền xem ra ít coi trọng thơ. Đối với Tuyền, thơ chỉ là một phương tiện để biểu thị sức sống sục sôi trong trái tim nổi loạn và cách mạng của Tuyền. Một lần biên thư cho tác giả, Tuyền tâm sự :

Thú thật với anh hồi ấy còn trẻ tôi chẳng bao giờ coi thơ là cái gì quan trọng cả nên thải độ đối với thơ không chỉnh, chừng biết ra thì thái độ ấy hóa thành tật quen”.

(Thư riêng viết ngày 27.7.73)

Tôi e đó là sự thật. Thật ngay trong cả những bài thơ chính yếu đưa Tuyền lên tột đỉnh thi sĩ.

Trái lại, ở giây phút xúc động, chấn kích, chân thành nhất của đời Tuyền, thơ Tuyền mềm mại, gợi cảm, xoáy lộng hồn người đọc. Tiếc thay, những giây phút ấy, những bài thơ ấy không nhiều. Có lẽ vì Tuyền quá ham xuống đường khuấy động, ham phất ngọn cờ nghĩa cho văn học suy tư. Hay ham viết văn ? Tạm dẫn hai trong dòng thơ ấy :

Mây đục đậu bên bờ cửa sổ
người nằm ôm chăn mỏng nhớ đời
bệnh viện thành công viên khuất nẻo
người ngủ một mình đợi chúng tôi
trời cao trời cao xin xanh biếc
hơi thở rất tròn quanh vành môi
không trách chúng tôi nhiều quên lãng
cửa ngoài chưa thỏa vút tiếng cười
còn thương những kẻ đau rỏ máu
những chuyện hôm qua chuyện núi đồi
mai kia thân thể hoang từng mảnh
nằm đây rồi cũng rõi mây trời
Thoại ơi Thoại ơi không biết khóc
nhưng giòng nước mắt ướp mặn môi
không chết trần truồng không thể được
chúng tôi đập vỡ những hình hài
cuộc sổng phải thừa như không khí
cuộc sống phải thừa như sớm mai
 
đường hanh bệnh viện dòn tiếng bước
chúng tôi vào giữa lúc Thoại ngồi
xin trao thi sĩ vòng hoa tặng
chúng ta đã thắng giữa cuộc đời

(toàn bài Gửi Quách Thoại, trong Tôi không còn cô độc, 1956)

Còn gì chăng ?
Tôi bưng mặt khóc bên thềm cửa
Trời đất rưng rưng
Em không để cầm tay
Khi người thi sĩ ấy chết trơ trụi
Không một lời trối trăn, từ biệt
Mắt khép không đợi vuốt
Nửa đêm
Còn gì chăng ?
Tôi ngồi khóc bên bờ sông trôi mãi
Em bỏ đi
Những người thân nhất đều hắt hủi
Giữa xứ sở đau thương tôi chịu đọa đày
Khi người thi sĩ ấy đã gặp
Người tình ngàn đời là vô cùng
Trong hồn đất
 
Còn gì chăng ?
Tôi bẻ nhỏ và tôi than thở
Em bỏ đi
Em cũng chẳng trở về
Nhưng vì sao rụng bỗng đầy lề nhân gian
Người thi sĩ bay vào miền đất lạ
Không nhớ mảy may biển gió cát muôn trùng
Ở đấy tôi còn mở mắt
Dìu linh hồn lang thang.

(toàn bài về Quách Thoại, trong Liên đêm mặt trời tim thấy, 1964)

Gần đây nhất, bị giam hãm ở các trại tập trung cải tạo vùng Việt Bắc vào những năm 79, dòng thơ nhất quán ấy lại lộ ra. Ta ngỡ như Đổ Phủ lột xác đi vào ngôn ngữ Việt. Và ta mừng cho tinh hoa Việt chưa lấm lem Cộng sản còn rực. Trên mọi căm thù vặt vảnh.

Đang đọc lại bài viết đưa in sách, tôi mua được tập thơ vừa xuất bản ỏ hải ngoại của Thanh Tâm Tuyền : “Thơ ở đâu xa” gồm 58 bài làm trong thời gian mười mấy năm đi tù cải tạo qua các trại Long giao, Yên báy, Lao cay, Vĩnh phú.

Đáng là thơ đại biểu cho ba triệu người tù miền Nam sau 75. Thơ Tuyền đang làm nhạt thếch loại thi tù than oán, gào thét hay thị uy, tố cáo, của một số thi sĩ cách mạng dưới thời thuộc Pháp. Thời Pháp thuộc có tra khảo với nhục hình. Nay dưới chế độ cách mạng, người tù chịu thêm sự lăng nhục và khủng bố tinh thần qua mỗi ngày ngày.

Thế mà người tù Thanh Tâm Tuyền vẫn tự tại tiêu dao

Hồn viển vông chẳng chút oán sầu
(Ngã trên núi Việt Hồng khi đi vác nứa)
Đầm mình trong hạnh của ẩn mật
Mắt hoen nhòa hứng giọt thiên thâu
(bđd)

Mắt chẳng nhòa nước mắt đâu. Thiên thu rịn cơn tinh đẩu đấy. Chưa một lần nào Tuyền đấu tố kẻ hành hạ mình. Cũng không tả chốn ngục tù, cảnh bạc đãi. Chỉ nói phớt những lần đói, đôi lần vấp ngã điếng thân. Còn lại : một hồn thơ bát ngát, một thiên nhiên thầm thỉ, với nỗi nhớ đầy và dịu hình ảnh vợ con cùng bằng hữu.

vẫn mãi lãng du bóng tràng xanh
dù đêm lốc tới thúc quật chôn dấp
vẫn lầm lũi bóng tù khổ sai và trâu
trong ánh chớp xé rọi luống cày
(Thơ tặng bạn đi cày)

Vài khi Tuyền nao lòng, tuy khá hiếm

Lưu đầy trên đất Bắc
Còn qua bao cửa ngục ?
Đây quê mình quê người ?

Tuyền khác chi núi

Đứng vững không khuỵu chân
Trên mãnh đất nghèo khổ
(Vang vang trời vào xuân)

Nỗi chết đến với kẻ tử tù ư ?

Hắn tự chôn theo gió đáy trời
(Sinh nhật trên đồi sắn)

Trái tim tiêu dao tưởng chừng gỗ đá của hắn vẫn la đà

Đá thấy chim thoát từ lòng đá
Chim thấy đá rời từ lòng chim
(ChimĐá – Minh mạc)

Hào khí, bất khuất, vô úy là dáng vóc người thi sĩ ấy. Hẳn là thế. Tuyền đã hùng tráng hư vô hóa kẻ thù, và ngự ngai trên đầu bọn đao phủ. Nhân tính đã thắng bạo hành.

Hóa ra ngoài những bài thơ lập thuyết, vẫn có một mạch ngầm thơ Việt trong tâm Tuyền xanh ngát ? Thơ kín mật dưới lũng Rừng khi sự tàn bạo hay đau khổ ngao du trên từng thớ thân đau tướt của thi nhân.

Genève- Paris, 9.3.89

Thi Vũ

(trích “Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam”,NXB Quê Mẹ, Paris 1993)

Nguồn: http://www.gio-o.com/DaiSu/TTT2016ThiVu.htm

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Bình Luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Scroll Up