Sau hai lần triển lãm cá nhân ở Nam California, một, vào năm 1997 tại vùng Little Saigon, và lần hai, vào năm 1998 tại gallery LA Artcorp thuộc thành phố Los Angeles; ông đã quay lại Sài Gòn, VN để (tưởng rằng) trút bỏ chiếc thân cát bụi trên quê hương vì bị bệnh nan y. May mắn thay phép lạ đã đến với ông, tại nơi này ông không chữa trị gì mà đã khỏi bệnh. Không những thế, ông còn có thêm được một tình yêu mới mẻ, nồng nàn cuả nhà thơ trẻ Phương Lan và hiện là vợ của ông.

Sắp tới, ngày 15/6/19 này sẽ là ngày triển lãm cá nhân của ông một lần nữa tại nhật báo Người Việt vùng Little Saigon. Mặc dù HS Trịnh Cung đã triển lãm rất nhiều lần, nhiều nơi trên thế giới, nhưng lần thứ ba (triển lãm cá nhân) trên vùng đất có hơn ba trăm ngàn người Việt, một Sài Gòn thu nhỏ với đầy đủ ngành nghề, nhất là về mảng văn học nghệ thuật và báo chí, ông không khỏi có nhiều bận tâm của một người nghệ sĩ thấm đẫm sự cầu toàn nên đã cố gắng rất nhiều trong công việc chuẩn bị triển lãm.

Mở đầu, ông đã xuất bản tập Treo Trên Giá Vẽ/Hanging on The Easel từ tháng 3/19. Sách do Văn Học Press ấn hành, Mekong Printing ấn loát tại California. Đây là một tập sách về hội họa rất công phu; sách in toàn giấy trắng dày, láng. Bìa là bức tranh Treo Trên Giá Vẽ, một tác phẩm nổi tiếng của ông. Phần ngôn ngữ, tất cả đều dược dịch ra tiếng Anh. Phần tranh được in rất công phu, rõ, tỉ mỉ từng nét và giữ được màu nguyên tác đến 80-90 %.

Xin điểm sơ qua phần nội dung của cuốn sách:

Đây chính là một hồi ký về sự nghiệp hội họa của HS Tịnh Cung trong suốt 56 năm (1962-2018). Trong Lời Ngỏ, sau khi trình bày những khó khăn trong việc xuất bản một cuốn sách về hội họa “Trong việc có liên quan đến lịch sử, quá khứ, cả quan điểm làm nghệ thuật theo hướng tự do tư tưởng nên không tránh khỏi khác biệt và đụng chạm. Do đó sách không thể phổ biến rộng rãi ở Việt nam hiện thời.

Tuy nhiên tôi tin tưởng vào tình yêu hội họa, tin vào trái tim mình luôn đập theo tiếng gọi của Cái Đẹp và sự tiến bộ nên xin được giữ mãi tính cách và tư duy nghệ thuật ấy cho đến phút cuối cùng.”(*)

Đó chính là tính cách của Trịnh Cung, một con người khí khái, sẵn sàng đương đầu với cam go, chiến đấu với những điều ông cho là bất công trong xã hội và những gì giả nghệ thuật, phi nghệ thuật; cũng chính cái tính cách này mà ông đã làm cho nhiều người không hài lòng. Và, Trịnh Cung đã bất cần!

Trong phần “20 Câu Hỏi Cho Bản Tự Khai” là dạng tiểu sử tóm lược của tác giả. Qua đây chúng ta có dịp hiểu khá nhiều một người tên Nguyễn Văn Liễu, tên khai sanh của HS Trịnh Cung, gốc gác Quảng Nam, từng làm thơ (bút danh Thương Nguyệt).

Năm 1963 là một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp hội họa của Trịnh Cung; ông đã bỏ dạy vẽ cho trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng, lên Đà Lạt sống chỉ để vẽ. Cũng trong năm này vinh quang đầu đời của sự nghiệp hôi họa đã đến với ông. Bức tranh “Người Ngồi” của ông đạt được Huy chương Đồng, giải “Hội Họa Mùa Xuân” và bức tranh này được Việt Nam chọn gửi đi dự giải “Triển Lãm Lưỡng Niên Paris 1963”. Sự thành công này của ông và trước đó, năm 1962, bức “Mùa Thu Tuổi Nhỏ” là một trong 17 tác phẩm chính thức đại diện cho Hội Mỹ Thuật Việt Nam tham gia triển lãm cùng với 19 quốc gia khác là một khí thế bừng bừng cho một tài năng, một tên tuổi lớn trong nền hội họa Việt Nam sau này.

Năm 1964 Trịnh Cung vào quân ngũ, trở thành sĩ quan huấn luyện tại trường Sĩ Quan Thủ Đức; 1966 ông tham gia Hội Họa Sĩ Trẻ với chức vụ là Tổng Thư Ký. Ông luôn luôn tự hảnh diện là mình đã được đào tạo từ một nền giáo dục rất nhân bản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Rồi theo “Vận nước nổi trôi” HS Trịnh Cung phải vào trại “cải tạo” sau 1975 hết 3 năm, không vẽ 11 năm. Sau đó ông đi đi về về giữa Việt Nam và Mỹ, triển lãm nhiều nơi và được một số trường đại học của Mỹ mời thỉnh giảng về hội họa. Cho đến năm 2013 mới chính thức định cư tại Mỹ.

Trên con đường sự nghiệp, qua cách phân chia những giai đoạn, tôi thấy ở ông một sự làm việc thật nghiêm túc, tiến bước một cách vững chắc. Trong hai thời kỳ vẽ theo trường phái Biểu Hiện (Expressionism) và trường phái Trừu Tượng (Abstract) ông đều có thời kỳ đầu (First Period). Chứng tỏ ông đã rất cố gắng đào tạo cho chính mình, học hỏi qua báo chí, sách vở; thực hành với chính những gì đã thu thập được rồi mới tiếp tục dấn bước vào những điều mình quyết tâm. Thử đưa ra vài khác biệt của hai giai đoạn khi ông vẽ theo Biểu Hiện:

Trong giai đoạn 1962 – 1975 phần màu sắc, Trịnh Cung luôn có gam màu tối, nặng nề, nhiều chi tiết và hình thể hơn hơn giai đoạn 1986 – 1992. Hai bức “Mùa Thu và Tuổi nhỏ,” Huy chương Bạc (1962) và “Hòa Nhạc Trên Sa Mạc” (1987) là điển hình. Giai đoạn đầu ông cho chúng ta thấy được những ưu tư, khắc khoải của một tâm hồn nghệ sĩ trước cuộc chiến tranh tàn khốc và những đớn đau của tuổi thanh thiếu niên đã và đang bị tàn phá bởi một cuộc chiến không nên có, không đáng có của Việt nam. Những vệt màu, những hình thể cứ như chen sát vào nhau, chen chúc, dày xéo tựa như bầu không khí đậm đặc, hôn ám đè lên từng chi tiết hữu cơ. Qua phần Hai, sau hơn mười năm không vẽ được, ông lại có cơ hội cầm cọ trở lại, phần lớn là do chính sách cởi trói. Tuy nhiên, sự ghét bỏ một xã hội ô trọc, bất công vẫn còn đó bàng bạc trong tác phẩm của ông, dẫu rằng màu sắc có sáng hơn, hình thể có nhiều khoảng cách hơn.

Thành phố thất lạc – Sơn dầu trên canvas (1m 20 x 1m50) (Huỳnh Thiện sưu tập)

Trong thời kỳ vẽ theo Trừu Tượng, tôi cho rằng là thời kỳ rất sung mãn, tài hoa của Trịnh Cung, như một bông hoa bừng nở mãn khai, kiêu hãnh khoe sắc trước mọi thời tiết. Những bức tranh màu sắc sang cả, óng mượt dù cho ông vẽ với gam màu nâu là chủ đạo hay xanh, đỏ, xám đều trong veo, nhuyễn sắc. Tài hoa Trịnh Cung phát tiết trong thời kỳ này quả thật tuyệt vời. Tôi cũng đồ rằng sự nghiệp của ông, sau này, những nhà phê bình cũng sẽ căn cứ từ thời kỳ vẽ Trừu Tượng của ông như là một căn bản trong sự nghiệp của người họa sĩ tài ba này.

Ánh trăng – Sơn dầu trên canvas (60cm x 80cm) (Bảo tàng Tp HCM sưu tập)

Trịnh Cung cũng vẽ nhiều tranh chân dung, đa phần là cho bằng hữu và nhất là những bức tranh khỏa thân sắc sảo, nóng bỏng nhưng không hề có sự dung tục, đây cũng là cái cần câu cơm của người họa sĩ nghiêm khắc với tác phẩm này. Ngoài ra ông còn bỏ ra gần hết cả năm trời (2013) chỉ để vẽ (bằng chì than – charcoal) những cây sồi trụi lá, đúng hơn chỉ là thân và nhánh. Những thân, nhánh của cây sồi đen nhẻm, sần sùi và vặn vẹo mang hình tướng của những con người oằn oại trong sự nghèo khó trong xã hội và cả với thiên nhiên khắc nghiệt; dẫu rằng những cây sồi kia mang nhiều ý nghĩa yêu thương, bão bọc theo trong huyền thoại. Tôi cho rằng tất cả giàu, nghèo, tự do hay nô lệ, tất cả đều phát sinh từ sự cần cù, nhẫn nại như câu sồi thương tích của cả trăm năm.

Sen – Sơn mài (60cm x 80cm) (Chân Phương sưu tập) (Boston)

Tôi cũng đặc biệt chú ý và vô cùng thú vị với loạt tranh vẽ trong hai năm 2017 và 2018 mà ông gọi là Hiện Thực Đơn Sắc (Monochromatic Realism). Loạt tranh gồm 12 bức khổ lớn (80×120 cm) có 8 bức ghép lại thành 3 tiêu đề và 4 bức riêng lẻ; chỉ vẽ đen trắng. Đây là loạt tranh mà ông khai thác chủ đề về người nghèo khổ mới nhập cư vào Mỹ, cũng là người họa sĩ gốc Việt đầu tiên đề cập đến vấn đề này. Khác với những cái nhìn về một cuộc sống sung túc cho những người di dân vào Mỹ. HS Trịnh Cung đã nhìn họ, trong đó ông lấy ông như một ví dụ, là những người ở đáy của xã hội, làm những công việc cực nhọc, đôi khi phải làm kẻ không nhà (homeless) nhưng vẫn phải ăn, phải đi shopping như mọi người dân khác.

Gặp Nhau ở Bolsa 2 – Sơn dầu đơn sắc trên canvas (1m20 x 2m 40)

Ngay từ những ngày đầu, Trịnh Cung cũng đã nắm bắt được cái tính cách rất tượng trưng của người Mỹ: Làm việc và tiêu dùng phải luôn song hành. Trong 8 bức tranh này, như: “Tôi Đến Đây,” “Trần Truồng” hay “Cái Mền Mua ở Goodwill,” “Xin Đi Chỗ Khác” là biểu tượng cho những người Việt mới nhập cư nghèo khó, vẫn còn giữ nguyên tính cách, bản chất cần cù, tranh đấu, giành giật từ một quê hương khốn khó. Họ đang có một đời sống lam lũ, làm việc cật lực, trong đó có tác giả đến Mỹ với cây cọ (brush) và tấm palette đang tự thôi thúc, tranh đấu với chính mình để vẽ một điều gì đó cho nhân sinh cho nghệ thuật. Tôi rất xúc động và rất thích thú trước bức tranh “Cái Mền Mua Ở Goodwill.” Trịnh Cung đã đưa gia đình 3 người của ông thành nhân vật vào tranh, vợ chồng cùng ôm đứa con thơ, quấn chung quanh bằng một chiếc mền mua ở Goodwill (nơi bán lại quần áo, đồ gia dụng v.v. do người dư thừa giàu có hiến tặng). Bức tranh không buồn không vui, nhưng, nó thể hiện được một sự thương yêu, chấp nhận hoàn cảnh sống qua đôi mắt vừa nồng nàn tình cảm vừa nhìn phía khoảng không đàng sau người chồng với thái độ gửi trao và chấp nhận. Thằng bé thì mở tròn đôi mắt thơ trẻ, đen láy nhìn vào bờ vai người mẹ như nhìn vào tương lai của nó. Loạt tranh này cho chúng ta thấy được 2 điều: Bút lực vẫn còn sung mãn ở tuổi tám mươi và sự luôn luôn sáng tạo của một họa sĩ tài danh Trịnh Cung. Ông là một người rất am tường lý thuyết hội họa, luôn luôn tự tin. Trong những lập luận của ông luôn luôn có phần mở, nhưng không phải vì vậy mà thiếu chính xác. Ngoài tài năng về hội họa cả về lý thuyết và thực hành, Trịnh Cung còn làm thơ rất hay, viết bình luận thật sâu sắc. Một người bạn thân là NS Trịnh Công Sơn phổ nhạc một số bài thơ của ông; có một bài rất nổi tiếng là “Cuối cùng cho một tình yêu,” thời đó (khoảng 1958) mà Trịnh Cung đã bắt đầu bài thơ như sau:

Ừ, thôi em về chiều mưa giông tới.
Bây giờ anh vui, hai bàn tay đói…

Chứng tỏ cách dùng chữ của ông rất mới, đi trước khá nhiều thi sĩ cùng thời.

Trịnh Cung quả là người đa tài và cũng đa cảm, ông xứng đáng là một họa sĩ lớn, một nghệ sĩ lớn của Việt Nam.

Đặng Phú Phong
03 – 6 – 2019

Nguồn: https://damau.org/60396/trinh-cung-mot-kien-tuong-trong-hoi-hoa

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Scroll Up