Nhà thơ Bùi Giáng. (Tranh: Đinh Trường Chinh)

Một dạo, tin Bùi Giáng mất tích đã gây xúc động cho một số anh em văn nghệ tại miền Nam. Đó là lúc mà không ai biết ông đi đâu, làm gì? Sống chết ra sao?

Nhà thơ Xuân Hiến, một trong những người bạn thân của họ Bùi cũng không biết. Ngay anh em của ông cũng không rõ gì hơn. Người thì bảo Bùi Giáng đã bỏ văn nghệ đi buôn. Kẻ lại bảo ông đã vào rừng, hay lên núi tu… tiên.

Tất cả chỉ là những ức đoán, đồn đại. Tựu trung, vẫn không ai rõ thực hư! Từ chỗ mù mờ, nhuốm huyền hoặc đó, một vài anh em khác giầu tưởng tượng hơn, nghĩ xa xôi hơn, nhưng cũng chua xót hơn cho rằng: “Biết đâu Bùi Giáng đã chẳng chết dấm chết dúi bụi bờ nào rồi (?). Trong một giây phút ‘xuất thần’ nào đó, có thể ông đã tự hủy đời mình!”

Anh em văn nghệ ai cũng biết Bùi Giáng gầy còm, ốm yếu. Ông vốn thấp, khô quắt, chỉ có cái đầu to quá khổ so với khuôn mặt chữ điền xương xẩu. Lại thêm tính nết đôi khi không được bình thường vì lao lực tinh thần, hoặc quá khứ nhiều bi kịch (?).

Những người sống gần ông ghi nhận rằng, mỗi khi bàn luận về vấn đề văn chương, tư tưởng, ông thường đưa tay ôm đầu, gục mặt. Nhất là khi đề cập tới “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, không chỉ ôm mặt, ông còn hay bật khóc, cộng với nhiều phản ứng bất thường khác, khiến nhiều anh em nghi ngờ, lo lắng, hoang mang về sự “mất tích” của chàng thi sĩ họ Bùi.

Trước những tin không vui ấy, tôi càng nôn nả muốn tìm gặp ông. Nhưng tìm Bùi Giáng đúng như câu nói của một người bạn tôi về ông: Tìm Bùi Giáng “như thể tìm chim.”

Chúng tôi đến căn nhà đường Trương Tấn Bửu không có, trại định cư khu Ngã Tư Bảy Hiền cũng không. Nhớ tới những phỏng đoán trên, tôi nghĩ: Biết đâu chẳng đúng! Rồi, những thôi thúc, náo động trong tôi với thời gian cũng lắng nguội dần. Phần vì mưu sinh, phần vì thiếu sức khỏe, chán nản, tôi quên dần chuyện tìm gặp tác giả “Mưa Nguồn.”

Một buổi tối, một bạn chung đưa anh Trần Quốc Túy, họa sĩ (cũng là bạn học cũ của tôi ở Chu Văn An) tới thăm tôi.

Có thể vì gặp TQT, nên tôi lại trực nhớ Bùi Giáng. Tưởng cũng nên nhấn mạnh, ngoài con người văn chương thơ phú, Bùi Giáng còn là một họa sĩ chuyên vẽ tranh màu nước loại trừu tượng. Ở khía cạnh này, có dễ ít người biết, mặc dù rất nhiều họa sĩ tên tuổi từng tỏ ý thán phục tranh của ông như NT, TTNĐ… Riêng tòa Đại Sứ Đức, đã điều đình mua một số tranh của ông với giá cao… Nhưng ông từ chối, và chỉ tặng cho tòa đại sứ Đức một bức.

Khi TQT nghe tôi nhắc tới Bùi Giáng, anh bảo sẽ tìm ra địa chỉ và, anh tin rằng không có một bất trắc nào xảy đến cho Bùi Giáng. Anh kể, anh từng ở cùng khu vực và có giao du khá thân thiết với họ Bùi. Bạn tôi quả quyết: “Bùi Giáng vẫn còn ở Sài Gòn.”

Hai hôm sau, TQT trở lại, báo tin anh đã tìm ra chỗ ở mới nhất của họ Bùi: “Khu Ngã Ba Ông Tạ.”

Tối hôm đó, chúng tôi hẹn gặp nhau ở quán cà phê LC gần bên con ngõ dẫn vào nhà ông.

Khi dựng xe trước căn nhà quét vôi trắng khá đồ sộ, sâu trong một hẻm lớn, tôi bồi hồi nghĩ tới lúc gặp mặt tác giả “Tư Tưởng Hiện Đại” (1).

Đúng như lo ngại lúc ban đầu, bà chủ nhà cho biết, Bùi Giáng mới đi khỏi cùng ông Ý (Bửu Ý). Hỏi bà có biết chừng nào ông ấy về? Bà đáp: “Không chừng, có thể một lát ông ấy trở về ngay, cũng có thể 2, 3 giờ sáng hoặc vài hôm sau.” Tuy nhiên bà vẫn muốn giữ chúng tôi nán lại. Hy vọng Bùi Giáng sẽ trở về ngay như thường khi.

Chúng tôi ngồi chờ ông, nghe bà chủ nhà nói rất nhiều chuyện ngộ nghĩnh về ông.

Lợi dụng lúc chờ đợi, tôi mượn một ngọn nến soi sáng chỗ làm việc của họ Bùi. Nếu không có chiếc “đi-văng” nhỏ kê sát tường và, đống quần áo vứt bừa bãi trên chiếc giá sách hỏng, trên cả bàn viết, lẫn lộn cùng những chồng sách cao ngút, chắc tôi sẽ có cảm tưởng gian nhà của Bùi Giáng là một phòng bán sách cũ. Bởi vì chung quanh phòng, những giá sách cao gần sát trần, chất đầy sách đủ loại, cả những chồng sách để ngay ở dưới sàn nhà, lẫn lộn cùng những khung tranh ông vẽ từ mấy năm nay.

Chiếc đi-văng, giường ngủ của Bùi Giáng, cũng được dùng để chứa sách. Ông chỉ chừa lại một khoảng nhỏ đủ để đặt lưng. Trên đầu đi-văng, có hai mẩu nến cháy dở. Hỏi ra mới biết ông có thói quen dùng đèn cầy đọc sách, bất cứ ngày hay đêm (mặc dù nhà có điện). Ông còn thích bỏ màn suốt ngày. Ông từng tiết lộ với bà chủ nhà rằng, ông làm như vậy, để bạn bè đến thấy không có chỗ ngồi, sẽ rời đi sớm.

Bà chủ nhà kể thêm: “Ông ấy không bao giờ bỏ giặt quần áo! Mặc bộ này chán rồi thay ra, mặc bộ khác vào. Cứ thế, xoay tua. Từ vòng này qua vòng khác…”

Trong căn phòng, tôi ước lượng cũng có tới cả 100 bức tranh to, nhỏ đủ loại. Đa số là những chân dung tưởng tượng. Những khuôn mặt người rách nát đau thương… Như TQT, bạn tôi cho biết thì khi vẽ, bao giờ ông cũng mặc quần áo chỉnh tề, thắt cravate, nhưng chân lại đi… dép. Ông vẽ rất nhanh, đường cọ đi rất mạnh bạo. Không phác trước… Bạn tôi nói, ông vẽ tranh nhanh như làm thơ vậy.

“Tranh của ông ấy, nếu có mang một giá trị, hay sức quyến rũ nào đó (dù ông không hề theo học một lớp hội họa cũng như không hề nhờ ai chỉ dẫn), có lẽ vì nó là kết quả của những suy nghiệm, những ray rứt, dày vò tâm thức ông từ quá khứ. Nên trong những giây phút xuất thần, cây cọ của ông phóng đi với những đường nét bất ngờ, mê hoặc…”

Thời gian này, Bùi Giáng ham mê nhất là khi vẽ chân dung nhà bác học Einstein và, nữ nghệ sĩ Kim Cương. Với hai khuôn mặt ấy, ông vẽ đi vẽ lại cả chục lần không chán. Trên tấm kính của mấy tủ sách, tôi cũng thấy dán hình hai nghệ sĩ Kim Cương và Thẩm Thúy Hằng. Không biết ông lấy phụ bản từ tờ báo nào!

Ngồi chờ khoảng một tiếng sau, vẫn chưa thấy Bùi Giáng về, chúng tôi đành xin phép cáo lui. Trở lại tiệm cà phê giữa tiếng nhạc nỉ non, trong một không khí ẩm thấp khói thuốc, mờ mờ những khuôn mặt thanh niên đủ trang lứa; giữa những tiếng cười khả ố, lâu lâu ré lên, tôi nghĩ tới Bùi Giáng không biết giờ này đang ở đâu, làm gì? Nghĩ tới chính mình và những người chung quanh – thế hệ hiện tại – tôi thấy cà phê đắng hơn mọi bữa và hình như không có mùi vị gì…

Trưa hôm sau, như đã hẹn trước, chúng tôi trở lại gặp Bùi Giáng đang xúng xính trong chiếc quần ngủ vải thô vàng, chiếc áo sơ mi cụt tay màu xanh với những khoanh tròn vàng (loại bán sẵn ở chợ), chiếc kính trắng dày cộm, nặng nề trên sống mũi thấp, ông bắt tay chúng tôi bằng nụ cười nửa như mừng rỡ, nửa như méo xệch, miễn cưỡng…

Bùi Giáng gỡ kính cất đi, mời chúng tôi ngồi bộ salon nhỏ, lối đi xuống sân sau, nhà bếp.

Tôi lấy cuốn thơ đề tặng từ trước đưa cho ông. Ông ngắm nghía bìa trước, sau, đọc vài trang trong, rồi đăm chiêu, im lặng. Không biết ông nghĩ gì, nhưng được dịp, tôi quan sát kỹ khuôn mặt đầy những vết sậm loang lổ (có thể ông bị nhiều tàn nhang).

Đầu ông đã to, lại thêm tóc húi “cua,” chắc cũng có tới 3, 4 tháng không được bàn tay ông phó cạo sờ tới, nó đâm tua tủa, che lấp một phần trán rộng, to, vuông vắn. Trán ông như bị xẻ hai vì tôi thấy ngay ở giữa trán, một vệt dài lõm xuống. Không phải là sẹo. Cặp mắt nhỏ sâu. Miệng rộng. Hai gò má nhô cao, cằm bạnh.

Ông cầm cuốn thơ của tôi cất đi và nói:

“Để tôi tìm ít sách biếu các anh.” Lát sau, ông mang ra cho tôi 3 cuốn “Mưa Nguồn,” “Màu Hoa Trên Ngàn,” thơ và cuốn mới nhất “Dialogue” (2).

Chúng tôi say sưa nghe ông nói chuyện về những vấn đề liên quan tới văn hóa, nghệ thuật, tới một vài nhân vật hiện có uy tín đối với giới sinh viên. Nhưng theo ông, họ lại là những người thiếu ý thức, vô trách nhiệm trong việc hướng dẫn sinh viên! Họ dùng những tiểu xảo, để đánh lừa, dối gạt sinh viên. Họ không dám viết những lời nói đó thành sách hay trên báo, mà chỉ phát ngôn trong vòng 4 bức tường… Nên dù ông rất muốn cho họ nhìn thấy lầm lỗi vô cùng tai hại của việc làm thiếu ý thức ấy, mà đành chịu.

Ông nói tới trường hợp cố văn sĩ kiêm nhà cách mạng Nhất Linh. Ông bảo:

Nhất Linh có tài viết văn, dựng tiểu thuyết. Nhưng Nhất Linh có lầm lỗi lớn, khi đề cập tới những tệ đoan của xã hội Việt Nam, và đã đi quá xa hiện tượng, khiến bọn ngoại quốc nhìn vào, những tưởng xã hội Việt Nam mà căn bản là gia đình, lại nát bấy như vậy. Thực ra, tình trạng ấy không đến nỗi bi đát đến thế.”

Bùi Giáng nhấn mạnh:

“Chính mấy ông trong TLVĐ tạo cho nó một bộ mặt xấu xa, rồi cũng tự các ông ấy lên án, đập phá. Một Loan của Đoạn Tuyệt mới chỉ có bề mặt phảng phất Việt Nam, nhưng thiếu hẳn chiều sâu tư tưởng. Tuy nhiên cái chết thật đẹp của Nhất Linh đã cứu vãn lại rất nhiều những gì không hay mà ông ấy đã để lại cho xứ sở này.

Họ Bùi cũng nhắc tới Thạc Sĩ Phạm Duy Khiêm. Ông cho rằng người ta chửi rủa Phạm Duy Khiêm mất gốc, vong bản, khi ông ta dám nói rằng tiếng Việt Nam không ra gì cả. Nhưng theo tác giả “Mưa Nguồn” thì Phạm Duy Khiêm lại là người yêu nước rất nhiệt thành.

Bùi Giáng đặt vấn đề đã có ai làm như và hơn được Phạm Duy Khiêm, khi ông này đem những chuyện cổ tích Việt Nam, viết lại bằng tiếng Pháp cho  thế giới, nhìn thấy rõ được cái thâm thúy, trầm sâu của dân tộc ta.

“Chứ bọn văn sĩ lăng nhăng không những chẳng giúp ích gì được cho đất nước này mà chỉ khiến người ta coi thường, lầm tưởng dân mình mọi rợ man di mà thôi…”

Bị quyến rũ bởi giọng nói chuyện và nhất là chiếc miệng có duyên của Bùi Giáng, tôi quên cả giờ đi làm. Tới lúc đứng dậy, buổi trưa đã qua từ lâu. Khi ra khỏi ngõ, giọng nói đặc biệt Quảng Nam nhỏ nhẹ, hơi rè của ông còn văng vẳng bên tai tôi:

“Với tôi, điều quan trọng bây giờ là phải làm sao đặt định lại đúng tầm mức quan trọng của văn hóa. Phải làm sao tạo được sự bình đẳng. Vấn đề bình đẳng quan trọng lắm, lớn lắm. Từ đó Đông Tây mới có thể nói chuyện với nhau được.

 

Du Tử Lê

(trích “Năm sắc diện năm định mệnh,” nhà xuất bản Tao Đàn, Sài Gòn, 1965)

Chú thích:
(1) Sài Gòn Kim Hải Việt Nam xuất bản năm 1962. Toàn bộ gồm ba cuốn. Bộ sách này, từng gây xôn xao dư luận một thời.

Nguồn: nguoi-viet.com

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Scroll Up