phỏng dịch truyện Dear John của Nicholas Sparks

Wilmington, 2000

Tôi tên là John Tyree, sinh năm 1977. Tôi sinh ra và lớn lên ở Wilmington, North Carolina, một thành phố hãnh diện là có hải cảng lớn nhất tiểu bang cùng với một lịch sử lâu dài và sống động. Nhưng đối với tôi sự hiện hữu của thành phố này chỉ là một lầm lẫn. Thì cũng được đi, thời tiết lúc nào cũng ấm áp, những bãi biển thì hết sẩy, nhưng đây đâu phải một chỗ rẻ tiền để cho đám lính già từ phía bắc trốn lạnh chạy về đây nghỉ hưu. Thành phố nằm trên một dải đất hẹp chạy dài, một bên là biển một bên là sông Cape Fear. Xa lộ 17 – chạy hướng tới Mytle Beach and Charleston – là trục lộ chính, chạy dọc chia thành phố làm hai. Khi tôi còn nhỏ, ba tôi chở tôi lái xe chạy một mạch từ khu phố cổ gần sông Cape Fear tớ bãi biển Wrights chỉ chừng mười phút. Nhưng bây giờ thì vừa đèn xanh đèn đỏ, vừa cửa hàng lớn nhỏ mọc lô nhô, nhiều khi tốn cả giờ đồng hồ đi cũng chưa tới, nhứt là cuối tuần khi du khách tứ xứ mò về. Bãi biển Wrights ở gần một cái đảo nhỏ phía bắc của thành phố, là một trong những bãi biển đông nhộn nhịp nhứt cả tiểu bang. Nhà dọc theo bờ biển mắc thấu trời xanh, hầu hết cho mướn đặc rịt trong mùa hè. Những bãi biển xa hơn ở vùng Outer Banks thì có thể thơ mộng hơn vì hẻo lánh, lại có thêm ngựa rừng chạy rông và chuyến bay lịch sử nổi tiếng của Orville and Wilbur. Nhưng khổ một nổi, thiên hạ xuống vùng biển nghỉ hè ai cũng muốn tiện nghi như ở nhà mình, ai cũng muốn ở gần phố, ai cũng an tâm hơn khi thấy gần chỗ ở có mấy tiệm như Mac Donald, như Bugger King, lỡ mấy nhóc tì có chê tiệm ăn địa phương thì còn đường mà binh.

Giống như mọi thành phố khác, ở Wilmington chỉ có những người có đất đai nhà cửa là giàu, còn mọi người khác thì ai cũng nghèo. Cũng đỡ là ba tôi là có một việc làm thuộc loại bảo đảm nhứt trên trái đất này – ổng là người phát thư cho bưu điện – nên gia đình tôi không đến nỗi nào. Không ngon lành cho lắm, nhưng thong thả đủ ăn đủ mặc. Không giàu có gì nhưng nhờ sống gần một vùng nhà giàu nên tôi ké theo, được đi học ở một trường trung học thuộc loại ngon lành nhứt trong thành phố. Tuy nhiên, không giống như mấy thằng bạn xịn trong lớp, nhà tôi nhỏ và cũ kỹ; một phần của mái hiên trước nhà đã bắt đầu xệ xuống, nhưng nhờ ở cái vườn chung quanh nhà thành ra nhìn chung cũng không đến nỗi nào. Phía sau vườn có một cây sồi cổ thụ, hồi tám tuổi tôi tự làm một nhà sàn ở trển với gỗ vụn mót nhặt từ mấy công trường xây cất. ba tôi ổng không giúp vô một chút nào hết (nếu ổng mà cầm cây búa đóng một cây đinh thì phải nói là chắc trời gần sập!). Cùng một mùa hè đó tôi tự mình ên tập chơi trò trượt sóng. Bây giờ tôi nghĩ là chừng tuổi đó rồi thì đúng ra tôi phải nhận biết những khác biệt giữa hai cha con, nhưng con nít mà, đâu đã có biết gì về cuộc đời đâu.

Hai cha con tôi là hai thái cực. Ba tôi thì thụ động, sống nhiều về nội tâm, tôi thì lúc nào cũng hiếu động và không thích ngồi một mình. Ba tôi quan trọng hóa việc học hành, con tôi thì coi nhà trường như một câu lạc bộ giả trí có thêm với mấy món thể thao. Ba tôi đi đứng tướng tá lòm khòm và hay lê dép lẹp xẹp; còn tôi thì như cóc bỏ dĩa, nhảy tới nhảy lui, lúc nào cũng hỏi ổng là cỡ tôi thì chạy từ đầu tới cuối dãy phố mất mấy phút. Tới lớp tám là tôi đã cao hơn ba tôi, qua lớp chín là vật tay tôi hạ ổng cái rộp. Hình dong diện mạo của hai cha con cũng khác nhau. Ổng thì tóc vàng, mắt màu hạt dẻ, da tàn nhang lốm đốm đầy mình, còn tôi thì tóc nâu, mắt nâu, da sạm, mùa hè tới tháng Năm thì đen thui. Hàng xóm nếu có thắc mắc gì về sự khác biệt giữa hai cha con thì cũng là điều dễ hiểu. Khi tôi khôn lớn hơn một chút, lâu lâu nghe thiên hạ xì xào về má tôi, rằng là bã bỏ nhà ra đi khi tôi mới một tuổi. Mặc dầu sau này tôi nghi là má tôi bỏ nhà theo trai, nhưng ba tôi không bao giờ xác nhận điều này. Ổng chỉ nói là bã đã lầm lẫn khi lấy chồng lúc còn trẻ quá, và chưa sẵn sàng để có con. Ba tôi không bao giờ khen hay chê gì về má tôi. Nhưng ổng bắt tôi phải cầu nguyện cho bã mỗi tối, dù rằng không biết bã ở đâu, đang làm cái giống gì. Lâu lâu ổng nói là “Con làm cho ba nhớ tới má con”. Cho tới bây giờ, tôi không bao giờ có dịp gặp mặt má tôi, mà trong bụng tôi cũng chẳng thiết tha gì tới chuyện đó.

Tôi nghĩ là ba tôi hài lòng với đời sống của ống. Tôi nói vậy vì thiệt ra ổng ít khi biểu lộ tình cảm của mình ra mặt. Tuổi thơ của tôi thiếu vắng những nụ hôn, những cử chỉ âu yếm trìu mến. Mà nếu có đi nữa thì tôi cũng cảm thấy nó lạt lẽo gượng ép sao sao đó, làm như ba tôi làm cho có vậy thôi chớ thiệt tình ổng cũng không muốn làm. Tôi biết là ổng thương tôi qua những lo lắng chăm sóc của ổng dành cho tôi, nhưng tôi sinh ra lúc ổng đã bốn mươi ba tuổi rồi, thành ra có lúc tôi nghĩ là giá ổng vô chùa đi tu thì hạp hơn là lấy vợ sinh con. Ba tôi thuộc người cạy miệng không ra một câu. Chỉ lâu lâu ổng hỏi thử tôi học hành ra sao, ổng không bao giờ nóng giận nạt nộ nhưng cũng chả bao giờ nói đùa chuyện gì. Đời sống ba tôi là những việc lập đi lập lại. Buổi sáng ổng làm đồ ăn sáng cho tôi, trứng chiên, bánh mì nướng và thịt heo muối chiên. Buổi tối ổng lui cui nấu cơm tối trong khi nghe tôi kể đủ mọi thứ chuyện ở trường ở lớp. Ổng lấy hẹn với nha sĩ hai tháng trước ngày khám , trả tiền điện nước này nọ vào mỗi sáng thứ bảy, giặt quần áo vào chiều chủ nhựt, và ra khỏi nhà đi làm mỗi sáng đúng 7:35 AM. Ổng không thích giao tiếp với ai, công việc hàng ngày là thui thủi một mình đi bỏ những kiện hàng nhỏ hay những xấp thư vô thùng thư cho thiên hạ. Ổng không hẹn hò trai gái với cô nào, đêm đêm cũng chẳng vô tiệm chơi bài pokies với bạn bè, nhiều khi cả tuần điện thoại nhà không reng lấy một lần. Mà khi nó reng thì thường là lộn số, hay là mấy tên quảng cáo tùm bậy tùm bạ. Tôi hiểu là ba tôi cực khổ biết bao nhiêu trong cái vụ làm gà trống nuôi con này, nhưng chưa bao giờ tôi nghe ổng than vãn chuyện gì, ngay cả những lúc tôi làm ổng buồn lòng.

Buổi tối thường tôi ở nhà lủi thủi một mình. Khi chuyện nhà đã xong xuôi hết, ông ba tôi lui vô phòng làm việc với bộ sưu tầm tiền cắc của ổng. Đó là niềm đam mê vĩ đại nhứt trên đời của ổng. Ổng nhìn thấy an nhiên tự tại khi ngồi vô bàn, nghiên cứu cái bản tin của một người bán tiền cắc sưu tầm biệt hiệu là Greysheet, coi thử coi có đồng nào mua được. Thiệt ra, ông nội tôi mới là người bắt đầu cái bộ sưu tầm tiền cắc này. Người hùng của ông nội tôi là Louis Eliasberg, một nhà tài chánh ở Baltimore, người duy nhất có bộ sưu tầm có hết thảy mọi đồng tiền cắc của Mỹ, kể luôn những ngày phát hành khác nhau và chỗ đúc. Bộ sưu tầm của ông này không thua gì, nếu không muốn nói là hơn hẳn, bộ sưu tầm ở Smithsonian. Sau khi bà nội mất, ông nội tôi bắt đầu dính tới vụ sưu tầm tiền cắc này với ba tôi. Mùa hè ông nội và ba tôi thường đi xe lửa tới mấy xưởng đúc tiền để tự tay mua tiền mới phát hành hay tới những hội chợ sưu tầm tiền cắc rải rác ở vùng tây bắc. Từ từ, ông nội và ba tôi quen biết hầu hết những tay buôn bán tiền cắc sưu tầm cả nước, và bao nhiêu tiền bạc ông nội đổ dồn vô bộ sưu tầm này. Khổ một nỗi, ông nội tôi đâu có giàu có như Louis Eliasberg – ông chỉ là chủ một tiệm bán tạp hóa ở Burgaw, phải dẹp tiệm khi tiệm Piggly Wiggly mở cửa gần đó – cho nên bộ sưu tầm của ổng làm sao mà bằng bộ sưu tầm của Louis Eliasberg cho được. Dù rằng, bao nhiêu tiền bạc ông nội đều đổ vô chuyện sưu tầm tiền cắc này. Ông nội mặc đi mặc lại mỗi một cái áo khoác cả ba mươi năm trời không đổi, cả đời lái một chiếc xe cũ kỹ cà rịch cà tang, và tôi đoán chắc là ba tôi sau học xong trung học phải đi làm bưu điện thay vì lên học đại học là vì nhà hết tiền. Ông nội là một người lập dị, ba tôi cũng vậy. Cha nào con nấy mà, như người xưa thường nói. Khi ông nội mất, trong di chúc ông biểu bán ngôi nhà của ổng để lại để tiếp tục mua thêm tiền cắc cho bộ sưu tầm. Tôi nghĩ điệu này chắc mai mốt ba tôi cũng làm như vậy quá.

Tới khi ba tôi thừa hưởng bộ sưu tầm thì nó cũng đã khẩm lắm rồi. Khi lạm phát gia tăng và giá vàng lên tới 850 đô một lượng tây thì giá của bộ sưu tầm cũng bốc lên theo, cỡ một gia tài nho nhỏ đủ để một người sống đơn giản như ba tôi có thể về hưu vài ba lần mà ăn không hết. Nhưng ông nội và ba tôi sưu tầm tiền cắc đâu phải vì tiền mà là vì đam mê, và vì nó tạo ra được cái liên hệ ràng buộc hai cha con với nhau. Cái chuyện bỏ công ra rán đi tìm cho ra một đồng tiền quí giá nào đó, cuối cùng tìm được, rồi trả giá lên xuống để mua cho khỏi hớ cũng hấp dẫn lắm chớ. Đôi khi đồng tiền giá vừa túi tiền, đôi khi thì mắc quá không mua nổi, nhưng mua được đồng nào là quí đồng nấy. Ba tôi hy vọng là tôi cũng mê sưu tầm tiền cắc, và cũng chịu hi sinh cho mấy đồng cắc này như ổng. Nhà sống tằn tiện, buổi tối mùa đông khi ngủ tôi phải đắp thêm mền, mỗi năm tôi chỉ có mỗi một đôi giày mới, và quần áo thì chẳng bao giờ mới cả mà toàn là quần áo cũ mua lại ở Salvation Army. Ba tôi cũng không sắm được một cái máy ảnh. Bức ảnh duy nhứt của hai cha con là chụp ở một hội chợ tiền cắc ở Atlanta. Một chủ sạp chụp đại hai cha con đứng trước sạp hàng của ổng và gởi về cho. Nhận được, ba tôi lồng khung bức ảnh chưng trên bàn làm việc của ổng. Trong hình ba tôi quàng tay qua vai tôi, hai cha con mặt mày tươi rói. Trong tay tôi cầm đồng tiền kẽm 1926-D có hình con trâu rừng còn mới keng mà ba tôi mới mua được. Đồng tiền đó mắc hơn dự tính nhiều, rán mua nên hậu quả là hai cha con phải chịu ăn hotdogs và đậu cả mấy tháng trời.

Dù sao đi nữa thì tôi cũng không ngại gì chuyện hi sinh trong mấy năm đầu hồi tôi còn nhỏ. Ba tôi rủ tôi vô chuyện sưu tầm này hồi tôi chừng lớp một lớp hai gì đó, nói chuyện sưu tầm với tôi như một người ngang hàng. Con nít mà được người lớn, nhứt là ba mình, coi như ngang hàng thì đứa nào lại không khoái. Cho nên tôi hãnh diện vô cùng và rán theo học đủ mọi chuyện. Chẳng bao lâu tôi cũng nghề như ai, tôi thuộc nằm lòng có bao nhiều đồng Saint-Gaudens với hai con phượng hoàng được phát hành năm 1927 so với năm 1924 và tại sao đồng 25 xu Barber 1925 làm ở New Orleans thì giá gấp mười lần đồng 25 xu cũng làm cùng năm nhưng ở Philadelphia. Cho tới bây giờ tôi cũng còn nhớ nữa. Tuy nhiên không giống như ba tôi, lớn lên thì tôi không còn thích ba cái chuyện sưu tầm này nữa. Hình như ba tôi không có chuyện gì để nói ngoài chuyện về sưu tầm tiền cắc này, còn tôi thì hết ham nổi sau sáu bảy năm ròng cuối tuần nào cũng lo bôn ba xuôi ngược. Như những đứa con trai mới lớn khác, tôi bắt đầu để ý tới nhiều thứ khác, chính là thể thao, mấy cô gái, xe hơi và âm nhạc. Và đâu cỡ mười bốn tuổi thì tôi ít khi ở nhà. Và sự bất mãn trong lòng cùng lớn theo. Từ từ tôi để ý tới sự khác biệt giữa cách sống của gia đình tôi và của hầu hết mấy thằng bạn cùng lớp. Tụi nó thì thoải mái có tiền rủng rỉnh đi coi xi nê, hay mua mấy cặp kiếng mát kiểu cọ, còn tôi thì ngay cả một cái buger ở MacDonald’s cũng phải moi móc gom góp mấy đồng xu lẻ rớt kẹt trong ghế xa lông. Nhiều đứa bạn trong lớp sinh nhật mười sáu tuổi ba má tụi nó mua cho cả chiếc xe hơi, còn ba tôi thì cho tôi đồng đô la bạc Morgan 1883 đúc ở Carson City. Trong nhà cái ghế xa lông rách phải lấy cái mền che lại, bạn bè chung quanh ai cũng có TV dây cáp hay lò nướng microwave, chỉ có mỗi nhà tôi là không có gì hết. Khi cái tủ lạnh bị hư, ba tôi đi mua một cái tủ lạnh cũ màu xanh lá cây nhìn không giống ai, không hạp với một món gì trong nhà bếp hết. Tôi thấy xấu hổ trong lòng khi nghĩ đến chuyện lỡ có thằng bạn nào lại thăm chơi. Mọi chuyện tôi đổ thừa cho ba tôi hết. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy phỉ nhổ cho chính mình – nếu mà thấy cần tiền cho mình quá thì tại sao hồi đó tôi không chịu khó đi làm thêm, cắt cỏ, rửa chén chẳng hạn – nhưng cái kiểu của tôi hồi đó là vậy. Không biết sao mà tôi khù khờ ngốc nghếch quá cỡ vậy. Bây giờ nghĩ lại tôi hối tiếc về sự non nớt dại dột của mình nhưng chuyện qua rồi đâu có thay đổi được nữa.

Ba tôi cũng nhận thấy những thay đổi trong tôi nhưng không biết phải làm sao. Tuy vậy ổng cũng rán, theo cái cách duy nhứt mà ông nội tôi biết, theo cái cách duy nhứt mà ổng biết. Ổng nói chuyện sưu tầm tiền cắc, tiếp tục làm đồ ăn sáng cho tôi, nấu cơm tối cho tôi, nhưng hai cha con càng ngày càng cách xa. Cùng lúc tôi cũng lánh xa mấy thằng bạn đường hoàng đang quen biết. Tụi nó nói toàn chuyện kiểu cách, chuyện đi coi xi nê phim gì, chuyện cái áo sơ mi mới mua vân vân, và tôi cảm thấy không hạp nữa, như là người ngoại cuộc đứng ngoài nhìn vô tụi nó vậy. Kệ cha tụi nó, tôi nghĩ. Trong trường trung học đâu có thiếu gì bạn để chơi, không đám này thì đám khác. Tôi bắt đầu la cà chơi với mấy xóm nhà lá, mấy tên thuộc loại nhứt quỉ nhì ma thứ ba học trò, tôi bắt chước theo tụi nó cũng không ngán ai hết. Tôi bắt đầu trốn học, tập tành hút thuốc và bị phạt vì đánh lộn ba lần.

Tôi cũng bắt đầu bỏ không chơi thể thao nữa. Tôi chơi bóng bầu dục, bóng rổ và chạy điền kinh cho tới lớp tám. Mặc dầu lâu lâu ba tôi cũng có hỏi tôi chơi ra sao nhưng ông coi bộ không muốn nghe khi tôi kể hơi dài dòng chi tiết một chút. Lý do đơn giản là ba tôi không biết gì về thể thao cả. Ổng chưa bao giờ chơi môn thể thao đồng đội nào hết. Năm lớp tám, có lần ổng đi coi tụi tôi chơi bóng rổ. Ổng ngồi một mình trên khán đài, đầu thì hói, mặc cái áo choàng cũ mèm, vớ thì lộn màu. Mặc dầu ba tôi không mập nhưng cái kiểu ổng mặc quần nhìn bụng xề ra giống như có bầu ba tháng. Tôi cảm thấy xấu hổ, không muốn cho thiên hạ biết ổng là ba tôi. Sau trận đấu tôi lánh mặt ổng. Kể lại cũng thấy mình đáng phỉ nhổ thiệt, nhưng hồi đó kiểu của tôi là vậy.

Mọi chuyện càng ngày càng xuống dốc. Mấy năm đệ nhị cấp, máu nổi loạn của tôi chạy rần rần trong người. Điểm trong lớp của tôi càng ngày càng tệ trong hai năm qua, không phải là tôi không đủ thông minh (tôi thích nghĩ vậy) nhưng là do làm biếng và bất cần đời. Mấy lần ba tôi bắt gặp tôi đi chơi về khuya len lén chui vô nhà miệng nồng nặc hơi rượu. Có lần tôi bị cảnh sát dẫn điệu về nhà vì bị bắt ở một party có đủ cả rượu mạnh lẫn xì ke. Ổng cấm không cho tôi đi chơi nữa, tôi nổ sùng nói cho ổng biết là chuyện ai nấy lo, đừng can thiệp vô chuyện riêng của tôi, xong tôi bỏ nhà qua ở ké với một thằng bạn. Được đâu hai tuần tôi mò về nhà đầu thú, ông không nói một câu, cứ lẳng lặng mỗi sáng lại làm điểm tâm cho tôi như thường lệ. Bài vở trong lớp môn nào tôi cũng chỉ vừa đủ đậu sát nút. Tôi nghĩ là trường cho tôi đậu để tống cổ tôi đi quách cho êm chuyện. Ba tôi cũng hơi lo, theo cái kiểu của ổng, lâu lâu nhắc tới chuyện đại học này nọ. Nhưng lúc đó tôi đã quyết định là không muốn học tiếp lên đại học nữa. Tôi muốn đi làm, để có tiền sắm xe, sắm những thứ mà mười tám năm nay tôi không có.

Mãi cho tới sau khi tốt nghiệp trung học xong tôi cũng không nói cho ba tôi biết là ý tôi có muốn học lên đại học hay không. Khi ba tôi biết ra là tôi không chịu nộp đơn vô đại học, ông chui vô phòng làm việc của ổng, đóng cửa lại, ngồi trỏng cả đêm và sáng ra ăn điểm tâm không nói với tôi một tiếng nào. Buổi tối hôm đó ổng rán kiếm chuyện nói với tôi về sưu tầm tiền cắc, như là để hàn gắn cái lại tình cha con.

“Con có nhớ khi kì mình đi Atlanta, con là người kiếm thấy đồng nickel có đầu bò mà hai cha mình tìm cả mấy năm không ra” ba tôi nói, “Cái lần mà hai cha con mình được chụp hình. Ba nhớ hoài lúc đó con mừng quá cỡ, làm ba nhớ tới ông nội con.”

Tôi lắc đầu, làm như nỗi bế tắc muời mấy năm nay đột nhiên bộc phát ra, tôi lớn tiếng như nạt “Con chán mấy đồng tiền cắc này quá rồi, sao ba không bán quách bộ sưu tầm đi rồi làm chuyện khác, chuyện gì cũng được.”

Ba tôi không nói gì, nhưng cho tới bây giờ tôi vẫn không bao giờ quên được khuôn mặt đau khổ của ổng khi ổng quay người bỏ đi vô phòng làm việc. Tôi đã làm ba tôi buồn, mặc dù tôi tự bào chữa là tôi không cố ý làm vậy, nhưng tận đưới đáy lòng tôi biết là mình chỉ tự dối lòng. Từ đó ba tôi hầu như không nhắc gì tới chuyện tiền cắc nữa. Tôi cũng vậy. Hai cha con giờ như có một cái hố sâu ngăn cách ở giữa, không có gì để nói với nhau nữa. Vài ngày sau tôi để ý là ba tôi dẹp đi đâu mất tấm hình duy nhứt của hai cha con, làm như ổng sợ cái gì mà dính đến chuyện sưu tầm tiền cắc đều đụng chạm tới tôi. Lúc đó cũng dám vậy lắm, và mặc dầu tôi nghĩ là ổng quăng tấm hình vô thùng rác nhưng tôi cũng chẳng tiếc nuối gì hết.

Từ nhỏ tới lớn tôi không bao giờ nghĩ tới chuyện đi lính. Dù rằng vùng phía đông North Carolina này là một vùng có mật độ căn cứ quân sự dày đặc nhứt nước – có tới bảy căn cứ trong vòng một hai trăm cây số từ Wilmington – tôi thường nghĩ là đời lính là chỉ cho những tên thất bại trên đường đời. Ai mà muốn suốt đời phải nghe lệnh mấy tên đầu cúp ca rê. Chắc chắn là không tôi trong đó và ngoại trừ mấy tên ROTC(1) ra, trong trường tôi cũng chẳng có đứa nào thích cả. Phần mấy đứa học sinh khá đều vô học ở đại học North Carolina hay đại học Tiểu Bang North Carolina. Còn những thằng cà tàng thì ở lại, đi làm hết việc này qua việc khác, uống bia và la cà quán xá, tránh không đụng vô chuyện gì có dính dáng chút trách nhiệm ở trỏng.

Tôi thuộc loại thứ hai. Trong vòng hai năm sau khi xong trung học, tôi làm đủ thứ nghề, bồi bàn ở nhà hàng Outback Steakhouse, xét vé ở rạp xi nê, khuôn vác ở Staples, nướng bánh ở Waffle House, và thu ngân viên cho một tiệm bán đồ lưu niệm cho du khách. Làm được đồng nào tôi xài đồng nấy, không thèm để ý tới chuyện phấn đấu bon chen để lên chức gì cả, thành ra cứ bị đuổi từ việc này qua việc khác. Tôi cóc cần. Tôi chủ trương hưởng thụ cho đã mình cái đã. Tôi thường đi chơi về khuya, ngủ dậy trễ, và vì tôi còn sống ở nhà với ba tôi nên tiền tôi làm ra bao nhiêu tôi xài hết, đâu phải lo tiền cơm, tiền nhà, tiền bảo hiểm, hay để dành lo xây dưng tương lai gì ráo. Hơn nữa, nhìn chung quanh bạn bè chẳng có đứa nào khấm khá hơn tôi. Nhớ lại tôi thấy không phải là tôi sống không được vui vẻ nhưng cứ như vậy hoài thì riết cũng chán. Nhưng tôi vẫn mê trò trượt sóng – năm 1966, tôi trượt mấy đợt sóng mạnh nhứt do cơn bão Bertha và Fran đem về – chán là chán cái chuyện ngồi lê ở quán rượu Leroy’s. Tôi bắt đầu để ý là đêm nào cũng giống như đêm nào. Tôi sẽ uống vài lon bia, gặp một hai tên nào đó hồi xưa học chung trường, tụi nó sẽ hỏi tôi lúc này làm ăn ra sao, tôi sẽ nói đại khái mình đang làm cái giống gì, xong ngược lại tụi nó sẽ nói cho tôi biết là nó làm ăn ra sao. Không cần phải là thiên tài thì cũng biết tỏng là cả bọn đều không ra sao cả. Tụi nó phần lớn có nhà cửa hăn hòi, tôi thì trên răng dưới dái, nhưng làm sao mà tin được khi nghe là tụi nó yêu thích mấy cái việc làm như lau cửa sổ hay kéo mấy cái cầu tiêu di động, bởi vì tôi biết tỏng là đâu có ai đi học mà mơ tới chuyện ra đời sẽ làm mấy chuyện này đâu. Trong lớp tôi làm biếng thì có nhưng đâu có ngu như vậy.

Trong thời gian này tôi cũng có bồ bịch lăng nhăng với năm bảy cô gì đó. Ở quán rượu Leroy’s thì lúc nào cũng có mấy cô. Phần lớn là chỉ chơi qua đường. Tôi lợi dụng mấy cổ và để cho mấy cổ lợi dụng lại mình, hai bên cùng có lợi, chớ chả bao giờ nói cho cô nào biết tình cảm trong bụng mình ra sao. Chỉ có một lần cặp với một cô tên Lucy là kéo dài được mấy tháng. Lúc chưa bỏ nhau tôi tưởng là mình thương cổ thiệt. Cổ là sinh viên học ở UNC(2) Wilmington, lớn hơn tôi một tuổi, và muốn lên New York làm sau khi tốt nghiệp. Đêm gặp nhau lần cuối cổ nói “Em lo cho anh, nhưng em và anh ý muốn khác nhau. Anh có khả năng, có thể làm được nhiều chuyện trên đời, nhưng không biết vì lý do gì mà anh cứ thích tà tà như vậy”. Cổ ngần ngừ một chút rồi nói tiếp “Hơn nữa, em không biết là anh có thương em thiệt tình hay không.” Tôi biết là cổ nói trúng phong phóc. Sau đó cổ mua vé máy bay bỏ xứ đi không một lời từ giã. Chừng một năm sau, tôi xin ba má cổ cho số điện thoại của cổ, tôi gọi cổ nó chuyện nhùng nhằng chừng hai mươi phút. Cổ cho biết là cổ vừa làm đám hỏi với một tên luật sư và tháng Sáu tới là đám cưới.

Cú điện thoại với Lucy áp phê tôi nhiều hơn là tôi nghĩ. Bữa đó tôi lại mới bị đuổi việc, cho nên mới lại Leroy’s tính uống vài ly giải sầu. Nhìn đám đông chung quanh, thấy toàn là những tay không ra gì, tôi cảm thấy là mình không muốn tốn thì giờ lãng nhách thêm một buổi tối nữa, giả bộ là cuộc đời mình không đến nỗi nào. Thay vì ngồi trong quán, tôi mua một hộp sáu chai bia ra bờ biển ngồi độc ẩm. Lâu lắm rồi tôi mới thực sự ngồi tự kiểm điểm phê bình cuộc đời mình, phân vân không biết có nên nghe lời ba tôi xin vô học đại học học lại để cho có tấm bằng với thiên hạ. Nhưng mà nghỉ học lâu rồi, tôi thấy chuyện đó nghe xa vời quá và không giống ai hết. Không biết là hên hay xui, ngay lúc đó lại có hai tên lính thủy quân lục chiến chạy tà tà ngang qua. Cả hai trông trẻ trung, mạnh khỏe và tự tin. Thấy vậy tôi chợt nghĩ trong bụng, tụi nó đi lính được thì tôi cũng đi lính được vậy.

Tôi nghĩ tới nghĩ lui chuyện đi lính mấy ngày, cuối cùng thì ba tôi đã giúp tôi quyết định. Dĩ nhiên không phải là tôi đem chuyện này ra bàn với ổng – lúc này hai cho con đâu có nói chuyện gì với nhau nữa đâu. Có bữa tối nọ, tôi đi vô nhà bếp và nhìn thấy ba tôi ngồi ở bàn làm việc của ổng như thường lệ. Lần này tôi nhìn ổng kỹ lưỡng hơn một chút. Đầu ba tôi hói gần trọc lóc, còn mấy sợi lèo teo bạc trắng gần hai lỗ tai. Ổng gần tới tuổi về hưu rồi, tự nhiên tôi cảm thấy đời ổng lo cho tôi nhiều quá rồi, tôi không có quyền làm ổng buồn hoài như vầy được.

Cho nên tôi quyết định đăng ký đi lính. Ban đầu tôi tính đăng đi thủy quân lục chiến, vì tôi thấy mấy ông này hoài. Bãi biển Wrightsville lúc nào cũng có mấy ông đầu hớt ca rê từ trại lính Lejeyne hay Cherry Point ra tắm. Nhưng lúc nộp đơn thì tôi lại nộp vô lục quân. Tôi nghĩ là lính nào thì cũng giống lính nào, cũng cầm súng, nhưng bữa đó mấy tên tuyển mộ thủy quân lục chiến lại bỏ đi ăn trưa lúc tôi ghé vô trạm tuyển mộ, còn mấy tên làm cho lục quân thì đang ngồi đồng. Thấy vậy tôi ký đại cái đơn tình nguyện đi lính bốn năm, do bốc đồng thì đúng hơn là theo kế hoạch. Lúc chào đi ra cha sĩ quan tuyển mộ vỗ vai tôi chúc mừng, tôi mới giật mình không biết là mình có bị trúng kế gì đây không. Lúc đó là năm 1997 và tôi mới hai mươi tuổi.

Ở quân trường Fort Benning thiệt là te tua. Mọi trò huấn luyện đều dường như là để hạ nhục và nhồi sọ tân binh, để chấp hành mệnh lệnh mà không tắc mắc gì hết, mặc dù mấy cái lệnh này có ngu xuẩn tới cỡ nào đi nữa, nhưng đỡ một cái là tôi lại thích nghi với đời sống quân trường nhanh chóng hơn mấy tên khác. Mãn khóa tôi chọn bộ binh. Xong tới mấy tháng huyến luyện đội hình chiến thuật này nọ ở những nơi như Louisiana và Fort Bragg, căn bản là tụi tôi học cách giết người cho nhuyễn và tàn phá mọi thứ. Học xong, đơn vị tôi, trực thuộc sư đoàn Một Bộ Binh – tục gọi là sư đoàn Đại Hồng – bị gởi qua Đức trú đóng. Tôi không biết lấy một chữ Đức, nhưng cũng không sao, vì chuyện gì cũng dùng tiếng Anh hết. Lúc đầu còn dễ, từ từ mới thấm đời lính. Tôi bị điều động qua bán đảo Balkan bảy tháng kinh hoàng, trước thì Macedonia năm 1999, rồi tới Kosovo cho tới cuối mùa xuân năm 2000. Lương lậu đời lính không bao nhiêu, nhưng không tốn tiền nhà tiền cơm, và cũng chả có mua sắm gì mỗi khi lãnh lương, cho nên lần đầu tiên trong đời tôi để dành được ít tiền trong sổ băng. Không nhiều, nhưng cũng tàm tạm.

Lần đi phép thường niên đầu tiên tôi về nhà, chán ơi là chán, chỉ ăn rồi ngủ. Lần thứ nhì tôi đi Las Vegas. Trong đám có một thằng quê quán ở đó. Thế là ba thằng về ở ké nhà ba má nó. Tụi tôi la cà mấy sòng bài và tôi thua gần hết tiền để dành lâu nay. Lần đi phép thứ ba, sau khi trở về từ Kosovo, tôi thiệt sự cần nghỉ ngơi nên quyết định về nhà, hi vọng là về đó nằm không thì cái tôi sẽ bình tĩnh lại một chút. Bởi vì ở xa nên ba tôi và tôi ít khi nói chuyện qua điện thoại, nhưng ổng viết thư cho tôi đều đặn, con dấu bưu điện luôn luôn là ngày mồng một mỗi tháng. Thơ ba tôi không giống như thơ của mấy thằng bạn cùng đơn vị nhận từ má, chị hay vợ của tụi nó. Không có tình cảm riêng tư, không có gì mùi mẫn, hay một chữ thương nhớ ở trỏng. Ba tôi cũng không nhắc tới chuyện tiền cắc. Ổng chỉ viết về những thay đổi của hàng xóm, về thời tiết này nọ; khi tôi viết lại, kể về những trận đánh ác liệt rùng rợn ở bán đảo Balkan, ổng mới viết lại là ổng mừng thấy tôi sống sót trở về nhưng không nói gì thêm. Nhưng theo cái cách ba tôi viết thì tôi đoán là ông không thích tôi kể mấy chuyện đánh đấm nguy hiểm. Cái việc tôi tham gia trận mạc làm ông teo giò. Cho nên sau này tôi chỉ viết mấy chuyện nhẹ nhàng như trực phiên chán ơi là chán, hay chuyện cả tuần không nghe một tiếng súng nổ, chỉ ngồi đoán chơi thử mấy tên lính gác khác hút mấy điếu thuốc mỗi tối. Cuối thư bao giờ cha tôi cũng hứa là ông sẽ viết thêm sau, và ổng không bao giờ thất hứa. Từ lâu rồi tôi đã tự kết luận là ba tôi là một người tốt mà tôi có lẽ không bao giờ sánh bằng được.

Nhưng trong ba năm qua tôi cũng già dặn hơn nhiều. Nghe có vẻ sáo ngữ, như “ba tháng quân trường cam go đã chai tâm hồn lính mới“(3), đi vô là thằng con nít, đi ra trở thành đàn ông, vân vân và vân vân… Nhưng đi lính ai cũng phải già dặn ra, nhứt là lính bộ binh. Súng đạn thì mắc tiền, đồng đội đặt niềm tin vào mình, tên nào quờ quạng thì hình phạt nghiêm trọng hơn là chỉ bị bắt nhịn đói đi ngủ. Đương nhiên là đủ chuyện giấy tờ và những nỗi chán chường, chung quanh thì ai cũng hút thuốc ì xèo, mở miệng là chửi thề lung tung, thằng nào cũng có cả thùng báo dâm ô tục tiễu dưới gầm giường, rồi phải ở dưới quyền những tên ROTC mặt búng ra sữa, mới ra trường ỷ y coi những thằng lính nhà nghề như tôi không ra gì; nhưng ai cũng buộc phải học một bài học quan trọng trong đời, đó là phải làm tròn trách nhiệm của mình, và phaỉ làm cho tốt. Khi cấp trên ra lệnh, bạn không thể cãi lại. Nói thì nghe có vẻ khuếch đại chớ đó là chuyện sống còn. Tính trật một chút là đồng đội có thể đi đong như chơi. Đây là yếu tố căn bản của quân đội. Nhiều người thắc mắc không biết tại sao mấy ông nhà binh lại chịu vào sanh ra tử, hi sinh tính mạng mình cho những điều mà ngay cả nhiều người chính họ cũng không tin vào. Tôi đã ra trận với đủ hạng người, đủ chính kiến khác nhau; tôi đã gặp những người phỉ nhổ đời lính, những ngươi tôn vinh đời lính. Tôi đã gặp cả thiên tài lẫn những tên ngu dốt, nhưng nói gì thì nói, sau cùng cái lý do chính để những người lính chiến đấu hết mình là vì tình đồng đội. Vì tình chiến hữu. Không phải cho quê hương tổ quốc hay lòng yêu nước con mẹ gì hết, cũng không vì như một cái máy được huấn luyện để giết người, nhưng chỉ vì đồng đội đang sát cánh bên mình. Bạn chiến đấu cho đồng đội mình, cho đồng đội mình sống sót, và ngược lại anh em đồng đội cũng chiến đấu cho bạn, và cả nền tảng của quân đội đặt trên điều căn bản này.

Nhưng như đã nói, tôi thay đổi nhiều. Khi mới vô lính tôi còn hút thuốc nhả khói như ống khói tàu lửa, thời gian ở quân trường gần đi đứt một lá phổi. Nhưng không như mấy tên trong đơn vị, tôi cai và không đụng tới điếu thuốc cả hai năm nay. Tôi bớt rượu bia xuống còn độ chừng một hai chai bia mỗi tuần là đủ rồi. Nhiều khi cả tháng không uống một chai nào cũng không sao. Lý lịch tôi sạch trưng. Từ binh nhì tôi leo lên hạ sĩ, xong tới sáu tháng sau là lên trung sĩ, và tôi khám phá ra là tôi cũng làm xếp được. Tôi làm tiểu đội trưởng, tiểu đội tôi bắt sống được một tay tội phạm chiến tranh thứ dữ ở bán đảo Balkan. Cấp trên tính đề bạt tôi đi học sĩ quan dự bị, tôi phân vân không biết có nên đi hay không, vì thành sĩ quan rồi thì đôi khi phải cạo giấy ở văn phòng, mà tôi thì không ham mấy vụ này cho lắm. Ngoài chuyện trượt sóng, trước khi đi lính mấy năm liền tôi chả tập thể dục thể thao gì hết. Cho tới lần về phép thứ ba này là tôi lên mười kí lô, toàn là bắp thịt, bụng tôi thon lại rắn chắc. Phần lớn thì giờ rảnh tôi chạy bộ, chơi quyền anh và cử tạ với Tony, một tay dân New York với bắp thịt trong đầu, nói chuyện lúc nào cũng la lớn, thề độc rằng rượu tequila là thuốc cường dương, và là bạn thân thiết nhứt với tôi trong đơn vị. Nó rủ tôi đi xâm mình đầy hai cánh tay giống như nó, và càng ngày tôi càng khác xa với cái thằng tôi của những ngày cũ.

Tôi cũng đọc sách nhiều lắm. Đời lính có nhiều thì giờ để đọc mà, và anh em trao đổi sách qua lại, hay mượn từ thư viện đến nỗi bìa sờn gáy rách. Đừng nghĩ là tôi trở thành một nhà học giả, bởi vì không phải như vậy. Tôi đâu có đọc Chauser hay Proust hay Dostoevsky hay những tác giả nặng ký; tôi đọc phần lớn là truyện bí hiểm và hồi nhộp của Stephen King, và đặc biệt tôi thích Carl Hiaasen bởi vì sách chả dễ đọc và tiếu lâm. Tôi nghĩ giá môn Anh văn trong trường mà cho đọc mấy ông này thì thế giới sẽ thêm được rất nhiều người đọc sách.

Không như mấy tên cùng đơn vị, tôi né tránh không muốn dính dáng tới mấy chuyện bồ bịch này nọ. Nghe cũng hơi bất thường phải không các bạn. Tuổi thanh niên sung sức, đời lính căng thẳng – thì có gì tự nhiên hơn là tìm cách thư dãn với mấy cô gái? Nhưng tôi thì khác. Mặc dù tôi biết nhiều tên cặp bồ cặp bịch và ngay cả cưới vợ người bản xứ khi trú đóng ở Wuzburg, nhưng tôi cũng thừa biết là mấy vụ vợ chồng kiểu này không lâu dài được. Quân đội thì nói chung không muốn anh em sa đà kiểu như vậy – tôi đã chứng kiến quá nhiều vụ li dị để biết lý do tại sao – và trong khi tôi cũng thích gặp một cô nào đó thiệt đặc biệt để cặp kè cho vui, nhưng mà tìm mấy cô như vậy thì là như mò kim đáy biển.

Tony không hiểu nổi. “Mầy đi chơi với tao”, nó năn nỉ, “Mầy không chịu đi bao giờ”.

“Tao không có hứng”.

“Tại sao mầy lại không có hứng, Sabine thề độc là con nhỏ bạn của nó hết sảy. Cẳng dài và tóc vàng, và lại thích tequila nữa.”

“Mầy rủ thằng Don đi. Tao bảo đảm là nó gật đầu cái một.”

“Castelow? không được đâu. Sabine không thích tên đó.”

Tôi không nói gì.

“Tụi mình chỉ đi chơi cho vui một chút mà.”

Tôi lắc đầu, tôi tự nghĩ là thà cấm trại một mình còn hơn là trở ngược lại cái kiểu như thằng tôi hồi xưa, nhưng tôi cũng tự thắc mắc là riết rồi tôi dám như một ông thầy chùa, giống như ba tôi vậy.

Biết rằng không lay chuyển được tôi. Tony bước ra cửa không thèm dấu nỗi bất mãn của nó. “Tao thiệt tình không hiểu được mầy nổi.”

Khi ba tôi ra đón tôi ở phi trường, ổng không nhận ra tôi, ổng thiếu điều muốn nhảy dựng ngược lên khi tôi vỗ vai ổng. Tôi thấy ba tôi hình như là nhỏ con hơn hồi xưa. Thay vì ôm tôi như người ta thường làm, ổng đưa tay ra bắt tay tôi và hỏi thăm về chuyến bay, xong hai cha con không ai biết nói thêm gì nữa nên lẳng lặng kéo nhau ra xe. Cảm thấy kỳ cục và lạc lõng khi trở lại quê nhà, và tôi thấy hồi hộp, giống như kì phép trước vậy. Trong bãi đậu xe, tôi thảy cái xách ma ranh của mình vô cốp xe, chiếc Ford Escort cũ mèm của ba tôi bửng sau có dán miếng khẩu hiệu “ỦNG HỘ CÁC CHIẾN SĨ CỦA CHÚNG TA”. Tôi không chắc là câu khẩu hiệu có ý nghĩa gì với ba tôi không, nhưng cũng thấy vui bụng.

Về tới nhà, tôi thảy cái xách ma ranh vô trong phòng ngủ cũ của tôi. Mọi thứ trong nhà vẫn y chang như hồi xưa, từ mấy cái cúp cũ bụi bặm trên kệ sách cho tới mấy chai rượu Wild Turkey uống lỡ cỡ còn dấu trong ngăn tủ quần áo lót. Cái mền vẫn còn che phủ ghế xa lông, cái tủ lạnh màu xanh lá cây vẫn như rên rỉ là nó không hạp gì với nhà bếp này, và cái TV thì bắt được có bốn đài mà đài nào cũng mờ câm. Ba tôi nấu spaghetti; thứ Sáu là ngày ăn spaghetti mà. Trong lúc ăn tối hai cha con rán kiếm chuyện nói.

Tô mở miệng, “Về lại nhà thấy vui thiệt”.

Ba tôi nhếch miệng cười, “Vậy hả”, ổng trả lời.

Ba tôi ổng uống một ngụm sữa. Bữa tối lúc nào hai cha con cũng uống sữa. Xong cắm cúi ăn.

“Ba có nhớ thằng Tony không?”, tôi gợi chuyện. “Con nhớ là có trong thư viết cho ba con có kể chuyện nó. Nó có cô bồ tên là Sabine, cổ có cô con gái sáu tuổi. Con khuyên nó không dính dáng tới cổ mà nó không nghe lời”.

Ba tôi cẩn thận rắc phó mát Parmesan lên dĩa spaghetti của ổng cho đều đặn, “Vậy hả”, ổng nói.

Sau đó, tôi cũng cắm cúi ăn và cả hai cha con không ai nói một câu nào nữa. Tôi uống một chút sữa. Tôi ăn thêm một dĩa spaghetti nữa. Cái đồng hồ treo tường tiếp tục gõ tích tắc.

“Năm nay là ba về hưu rồi, chắc là hồ hỡi phấn khởi dữ.” Tôi khơi chuyện. “Muốn làm gì thì làm, đi đâu thì đi, ba có thể đi chu du vòng quanh thế giới.” Tôi tính nói là ổng có thể qua thăm tôi bên Đức, nhưng ngưng lại. Tôi biết là ba tôi sẽ không đi đâu, và tôi không muốn ép ổng vào thế kẹt. Hai cha con xoắn mấy sợi mì cùng lúc, ba tôi như đang suy nghĩ kiếm câu gì hay hay để đáp lại.

“Ba cũng không biết nữa”, cuối cùng ba tôi nói.

Tôi đầu hàng, không rán gợi chuyện nữa, từ đó bàn ăn im lặng chỉ nghe tiếng nỉa đụng mặt dĩa kêu lắc cắc. Ăn tối xong, hai cha con mạnh ai nấy lo chuyện mình. Còn mệt vì chuyến bay, tôi vô giường ngủ sớm, vẫn giật mình thức giấc chập chờn hàng giờ như là lúc ở căn cứ vậy. Buổi sáng khi tôi thức dậy thì ba tôi đã đi làm. Tôi ăn sáng và đọc báo, xong rán gọi điện thoại một vài thằng bạn cũ mà không có ai ở nhà, xong ra ga ra lôi cái bảng trượt sóng cũ ra, quá giang xe ra bờ biển.

Lúc này là tháng Sáu năm 2000, trời đã nóng, nước biển thì tươi mát. Đứng trên bảng trượt sóng nhìn vô bờ , tôi có thể nhìn thấy nhiều người đang đem đồ từ xe vô mấy căn nhà sau đụn cát. Như đã nói, bãi biển Wrightsville lúc nào cũng nhộn nhịp với những gia đình về nghỉ hè, mướn mấy căn nhà gần biển một vài tuần, tụi sinh viên ở Chapel Hill hay Raleigh cũng vậy. Tôi thì khoái cái đám sau hơn, và tôi để ý thấy một đám sinh viên nam nữ mặc đồ tắm nằm tắm nắng ở sân sau của một ngôi nhà gần cầu tàu. Tôi ngắm mấy cô một chặp cho đã mắt một chút, xong nhảy xuống biển trượt thêm vài tăng nữa, xong lên bờ nằm lim dim cả buổi chiều.

Tôi tính ghé lại Leroy’s thử nhưng nghĩ chắc mọi người mọi chuyện vẫn y chang vậy, chỉ có tôi là thay đổi. Cho nên thôi, tôi lại cái tiệm gần góc đường mua đại một chai bia rồi ra ngồi trên cầu tàu nhìn mặt trời lặn. Phần lớn dân đi câu đã bỏ về, còn lại một vài người thì cũng đang thu dọn đồ đạc, làm mấy con cá câu được. Mặt biển thay đổi từ từ, từ màu xám của quặng sắt qua màu da cam, xong qua màu vàng. Xa xa, nhìn ra phía ngoài của mấy bức tường chắn sóng tôi có thể thấy mấy con bồ nông đang cưỡi trên lưng mấy con cá heo lướt sóng. Nhìn trời tôi biết rằng tối nay là đêm trăng tròn đầu tiên trong tháng, kinh ngiệm chiến trường dạy tôi biết mấy chuyện này. Tôi ngồi uống bia một mình, nhìn trời mây trăng nước, đầu óc nghĩ mông lung đủ thứ chuyện tào lao. Nhưng chuyện gặp một cô gái là chuyện không tôi chẳng nghĩ tới làm chi cho mệt óc.

Đó chính là lúc tôi thấy cô gái đi bộ lên cầu tàu. Hai cô thì đúng hơn. Một cô thì cao và tóc vàng, cô kia thì tóc nâu nhìn thấy coi bộ hấp dẫn, cả hai nhìn đều trẻ hơn tôi. Có lẽ hai cô là sinh viên. Cả hai đều mặc quần sọt ngắn cũn cỡn và áo thun kiểu có dây quàng qua cổ hở vai hở bụng, cô tóc nâu mang theo một cái xách tay lớn, kiểu xách người ta hay mang khi dẫn con ra biển cả ngày. Khi hai cô đi lại gần, tôi nghe tiếng cười nói vô tư kiểu dân đi nghỉ mát.

“Hey”, tôi buột miệng kêu khi hai cô đi ngang trước mặt tôi, giọng không trơn tru cho lắm và thú thiệt là kêu đại cho vui chớ tôi không nghĩ là mấy cô thèm trả lời lại.

Cô tóc vàng thì đúng như tôi nghĩ, liếc ngang cái bảng trượt sóng và chai bia trên tay tôi xong nhìn chỗ khác. Cô tóc nâu thì khác, cổ làm tôi ngạc nhiên.

“Chào ông khách lạ”, cô mỉm cười trả lời lại. Cô nhìn cái bảng trượt sóng và nói tiếp “Bữa nay chắc có sóng hết sẩy phải không.”

Câu trả lời của cổ làm tôi giựt mình, và tôi nghe như  có một chút ân cần nào đó trong giọng nói của cổ. Cổ và cô bạn tiếp tục bước tới cuối cầu tàu. Tôi nhìn theo cổ trong lúc cổ đứng dựa vào rào cản của cầu tàu. Tôi tính đi bộ lại tự giới thiệu mình rồi làm quen. Nhưng nghĩ lại thôi. Coi bộ mấy cô không phải là tuýp người của tôi, hay nói đúng hơn là tôi không là tuýp người của mấy cổ. Tôi tu một hơi bia dài, xong ráng không để ý tới hai cô con gái nữa.

Mặc dù tôi ráng tránh nhưng ánh mắt tôi cứ quay lại chỗ cô tóc nâu đứng. Tôi ráng không để ý tới hai cổ nói chuyện gì nhưng khổ nổi cô tóc vàng có giọng nói lanh lảnh, cứ chạy thẳng vô hai lỗ tai tôi, không cách gì mà làm lơ  được. Cổ nói huyên thuyên về một anh chàng nào đó tên Brad và thổ lộ cổ yêu Brad quá cỡ thợ mộc, rằng cái club của cổ là nhứt hạng trong trường đại học, rằng cái party cuối năm của cái club của cổ là vui nhứt chưa từng có, rằng năm tới mấy cô khác nên gia nhập vô, rằng trong đám bạn của cô nhiều cô bồ bịch với mấy tên trong hội của tụi con trai, có cô còn để cho có bầu sảng nữa, nhưng là lỗi ở cổ vì đã được cảnh cáo trước về tên này rồi mà không nghe, vân vân và vân vân. Cô tóc nâu coi bộ ít nói – tôi không biết là cổ chăm chú nghe, hay ớn tới cổ họng về mấy chuyện này – nhưng thỉnh thoảng cô cười theo. Cũng y chang vậy, tôi cảm thấy chút thân thiện và thông cảm trong giọng cười của cổ, giống như của một người thân vậy, tôi phải tự thú nhận là không hiểu tại sao mình lại cảm thấy như vậy. Tôi để chai bia xuống bên cạnh, và để ý là cô tóc nâu để cái túi xách của cổ trên thành rào cản.

Hai cô gái đứng đó đâu chừng mười phút thì có hai cậu đi tà tà ra cầu tàu – tôi đoán là hai cậu sinh viên – mặc áo Lacoste màu hồng và da cam với quần sọt Bermuda dài tới đầu gối. Tôi đoán chừng là một trong hai anh chàng này là Brad mà cô tóc vàng đã kể lể. Cả hai tay cầm bia, càng tới gần càng lẳng lặng làm như cố tình hù hai cô gái. Tôi đoán chắc là hai cô hẹn với hai chàng này ra đây, rồi sau những ngạc nhiên với những tiếng ré và những cái tát nũng nịu nhẹ nhàng lên cánh tay, cả đám sẽ quay trở lại, cười giỡn hay làm đủ trò mà mấy cặp trai gái ở đại học hay làm.

Hai cậu con trai làm y như tôi đoán. Khi tới nơi hai tên hù hai cô gái; làm hai cô giựt mình ré lên và đánh bùm bụp vào cánh tay của hai anh chàng. Hai anh chàng huýt sáo chọc lại, và anh chàng mặc áo hồng làm đổ ít bia ra ngoài. Anh chàng đứng dựa vào thành chắn, chân này xéo lên chân kia, tay quắt ngược lại  phía sau.

“Ê, chừng vài phút nữa tụi mình sẽ đốt lửa ngòai trời,” anh chàng mặc áo da cam nói, quàng tay qua vai cô tóc vàng. Anh chàng hôn lên cổ của cổ. “Hai cô muốn về lại chưa.”

“Về nghen?”, cô tóc vàng nhìn cô tóc nâu hỏi.

“Ừ, về thì về.” cô tóc nâu trả lời.

Anh chàng mặo áo hồng chống tay vô rào cản, đứng thẳng người dậy, nhưng chắc tay anh chàng quơ đụng cái túi xách của cô tóc nâu, bởi vì nó trượt rồi rớt xuống thẳng biển cái bỏm nghe như tiếng cá nhảy xuống nước.

Anh chàng quay lưng lại, “Cái gì vậy?”

“Cái túi xách của tôi”, cô tóc nâu nói gấp “Anh hất nó rớt xuống biển rồi.”

“Ủa vậy hả, xin lỗi nghen”, anh chàng nói mà nghe ra  không có vẻ gì là xin lỗi cả.

“Có cái bóp của tôi ở trỏng!”

“Thì tôi đã nói là tôi xin lỗi.” anh chàng coi bộ càu nhàu.

“Mấy anh phải rán vớt nó lên trước khi nó chìm mất!”

Hai anh chàng sinh viên dường như không nhúc nhích gì cả, tôi doán chắc là cả hai tên không tên nào muốn nhảy xuống nước cả. Bởi vì thứ nhứt là không chắc gì tìm ra cái túi xách, thứ hai là phải bơi ngược vô bờ trở lại, chuyện mà thiên hạ không ai muốn làm khi đã có uống lai rai vài chai rồi. Tôi nghĩ là cô tóc nâu cũng đoán được ý anh chàng mặc áo hồng, bởi vì tôi thấy cổ hai tay nắm thanh chắn ngang trên của rào cản, một chân bước lên thanh chắn ngang dưới như muốn nhảy xuống nước.

“Đừng có dại dột, nó chìm mất tiêu rồi.”, anh chàng áo hồng tuyên bố, dơ tay nắm lấy vai cô để cản cô lại. “Nhảy xuống nguy hiểm lắm, biết đâu có cá mập ở dưới. Chỉ là cái bóp, tôi sẽ mua một cái mới đền lại cho.”

“Tôi cần cái bóp đó! Tất cả tiền bạc của tôi nằm ở trỏng!”

Tôi biết là chuyện này không dính dáng gì tới mình. Nhưng chân thì tôi cứ chạy vội lại bờ cầu tàu, trong đầu tôi thì chỉ nghĩ là, thôi kệ, có chết thằng tây nào đâu…

 

Nguyễn Sĩ Hạnh phỏng dịch

Chú thích:

(1) ROTC: viết tắc cuả “Reserve Officers Training Corps”, nghĩa là mấy học sinh/sinh viên còn đang đi học mà tham dự thêm huấn luyện quân sự để trở thành sĩ quan trừ bị
(2) University of North Carolina
(3) Nó và Tôi, Song Ngọc

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Bình Luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Scroll Up