phỏng dịch truyện Dear John của Nicholas Sparks

Mấy giờ sau đó, trong đêm đầu tiên cô đơn một mình ở Đức, Tôi đem lá thư của Savannah ra đọc lại, sống lại những ngày hai đứa bên nhau. Nhớ lại thì dễ òm, những kỷ niệm này đã nằm sâu trong đầu tôi và đôi khi còn thực hơn là cái đời lính tráng nữa. Tôi như cảm thấy được bàn tay của Savannah trong tay tôi và nhìn nàng lắc đầu cho ráo nước biển. Tôi cười lớn khi nhớ lại nỗi ngạc nhiên khi thấy nàng lần đầu tiên cưỡi sóng trượt mọt mạch vô bờ. Có Savannah làm tôi thay đổi, ai trong tiểu đội cũng “tám” về chuyện này. Trong mấy tuần kế liền, thằng Tony chọc tôi không nghỉ, ngạo tôi cái chuyện là cuối cùng thì nó cũng chứng minh được cái lý thuyết về sự quan trọng của bồ bịch. Cũng lỗi ở tôi đem chuyện Savannah ra kể cho nó nghe sơ. Tuy nhiên Tony lại ham hố muốn biết thêm chi tiết nữa. Trong khi tôi đọc sách thì nó ngồi đói diện nhìn tôi cười như một thằng khùng.

“Kể lại cho tao nghe một lần nữa về kỳ đi phép lãng mạn của mầy,” nó nói.

Tôi ép hai con mắt mình vô tráng sách, rán không để ý gì tới nó.

“Tên nàng là Savannah, phải không? Sa-va-nnah. Mẹ nội nó, tao thích cái tên này. Nghe thiệt… dễ thương, nhưng tao đoán là nàng hăng như một cọp cái, đúng không?”

“Đừng lộn xộn nữa, Tony.”

“Đừng có nói với tao như vậy chớ. Chính tao là tao là thằng lo cho mầy, biểu mầy đi chơi cho thoải mái. Nay mầy nghe lời tao thì phải trả ơn chớ. Tao muốn biết tường tận chuyện của mày.”

“Không dính dáng gì tớ mầy cả.”

“Nhưng mầy có nhớ uống tequila phải không? Tao bảo đảm là lúc nào nó cũng làm mình phong độ lên.”

Tôi không trả lời. Tony giơ hai tay lên trời. “Không lẽ mầy chỉ nói cho tao biết có chừng đó thôi sao?”

“Tao không muốn nói về chuyện đó nữa.”

“Bởi vì mầy đang yêu? Đúng rồi, mầy nói vậy nhưng sao tao tin được, tao bắt đầu nghi là mày bày đặt cho có chuyện.”

“Ừ, đúng rồi. Tao bày đặt ra cho có chuyện. Vậy là hết chuyện nói nghe chưa?”

Tony lắc đầu và đứng dậy. “Mầy đúng là con chó con đang ngụp lặn trong tình yêu.”

Tôi không nói gì, nhưng khi nó bỏ đi, tôi biết là nó nói trúng phong phóc. Đầu óc tôi chỉ có mỗi hình bóng của nàng. Tôi có thể làm bất kỳ điều để được gần bên nàng, và tôi đã nộp đơn xin thuyên chuyển về lại Mỹ.

Ông xếp già của tôi dường như cũng có xem xét cái đơn của tôi nghiêm chỉnh. Ổng hỏi tôi tại sao xin thuyên chuyển thì thay vì nói về Savannah thì tôi lại kể chuyện ba tôi. Ổng lắng nghe một hồi, xong dựa ngữa ra ghế và nói, “Coi bộ không hi vọng nhiều trừ phi ông già mầy bệnh nặng.”

Bước ra khỏi văn phòng tôi biết là không xong, tôi sẽ phải bám trụ ở đây ít nhứt là mười sáu tháng nữa. Tôi cũng chả thèm che dấu nỗi thất vọng của mình, và kỳ trăng tròn tới tôi ra khỏi ba rắc, đi lang thang qua khu cỏ hoang mà tụi tôi thường chơi đá banh. Tôi nằm dài ra trên cỏ nhìn lên mặt trăng trên trời, nhớ lại mọi chuyện và thấy ghét thậm tệ cái sự thật phũ phàng là tôi ở xa nàng quá.

Ngay từ lúc đầu, hai đứa điện thoại và thư từ thường xuyên và đều đặn. Hai đứa cũng xài email nữa, nhưng tôi khám phá ra là Savannah thích thư viết tay hơn, và nàng muốn tôi cũng làm như vậy. “Em biết là thư không tới liền như email nhưng em thích vậy,” nàng viết. “Em thích cái được ngạc nhiên khi thấy có thư trong hộp thư và nỗi hồi họp khi sắp mở thư ra. Em thích vì thư mang theo mình được, ở đâu cũng đọc được. Và em có thể đứng dựa một gốc cây và hứng gió thổi vào mặt khi đọc thư anh. Em thích tưởng tượng ra anh lúc ngồi viết thư; mặc quần áo gì, quang cảnh chung quanh ra sao, cái cách anh cầm viết. Em biết nói nghe có vẻ sáo ngữ nhưng em cứ nghĩ tới hình ảnh anh ngồi trong trại lính bên một cái bàn tạm bợ với cái đèn hột vịt trong khi bên ngoài mưa gió bão bùng. Nghe lãng mạn hơn là đọc thư từ máy tính, máy dùng để download nhạc hay nghiên cứu cho bài làm.

Tôi mỉm cười khi đọc mấy hàng này. Nàng nói trật lất về trại, bàn, đèn hột vịt, nhưng phải công nhận là đọc nghe thú vị hơn là cái thực tế là đèn néon, bàn văn phòng kiểu của nhà nước trong trại lính bằng gỗ.

Càng ngày tình yêu của tôi cho Savannah hình như càng lớn mạnh hơn. Tôi hay lấy tấm hình nàng ra nhìn thật gần, nghiên cứu kĩ lưỡng khuôn mặt nàng. Có vẻ kì cục, nhưng như đất trời thay đổi tuần tự theo bốn mùa xuân hạ thu đông, tôi càng ngày càng cám ơn tấm hình. Vâng, tôi tự thuyết phục mình là có thể nhớ được nàng rõ ràng, nhưng khi thực lòng với mình, tôi biết là mình quên lần mấy chi tiết. Hay là có lẽ tôi chả bao giờ để ý tới. Trong hình chẳng hạn tôi thấy Savannah có một nút ruồi nhỏ dưới mắt trái mà tôi không nhìn thấy lâu nay. Hay là, nhìn kỹ một chút thì thấy nụ cười nàng hơi méo. Những khuyết điểm này lại làm nàng hoàn hảo dưới mắt tôi, nhưng tôi ghét cái chuyện là phải nhờ bức hình mà tôi mới thấy được.

Dù sao đi nữa tôi cũng phải sống với cái hiện tại. Có nhớ có thương Savannah cách mấy đi nữa thì tôi cũng phải làm nhiệm vụ người lính. Đầu tháng chín, không biết vì lý do gì mà tụi tôi bị gởi qua Kosovo lần thứ nhì chung với Sư Đoàn 1 làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở đó trong khi hầu như ai trong sư đoàn tôi cũng chuyển về lại Germany. Tình hình tương đối ổn định, tôi không phải bắn một phát súng nào.Nhưng cũng không có nghĩa là tôi có thì giờ để chỉ dạo hoa ngắm ảnh và tơ tưởng tới Savannah. Tôi lau chùi súng ống, canh chừng mấy tên khùng khùng, và khi mà phải làm việc liên tục như vậy, tối về là mệt đừ. Nói thiệt là nhiều khi hai ba ngày liên tục tôi chả có lúc nào nghĩ tới Savannah cả. Như vậy có làm cho tình yêu của tôi đối với nàng không thực cho lắm? Tôi tự hỏi câu hỏi này cả mấy chục lần trong suốt chiến dịch này, nhưng câu trả lời luôn là không, vì một lí do đơn giản là lâu lâu hình ảnh nàng lại phục kích tôi vào những lúc bất ngờ nhất, làm ngộp tôi với nỗi đau đớn như ngày tôi xa nàng. Chuyện gì cùng có thể gợi nhớ tới nàng được: một tên đồng đội kể chuyện vợ nó, cảnh một đôi nhân tình nắm tay nhau, hay ngay cả một người dân nhăn răng cười khi tiểu đội đi tuần qua làng.

Thư Savannah đến hàng mười ngày một lần, dồn lại cả đống chờ tôi khi tôi về lại Đức. Không có lá thư nào mùi như lá thơ đầu tôi đọc trên máy bay; phần lớn nói chuyện trên trời dưới đất, và nàng để dành chút tình cảm thực sự của lòng nàng cho tới cuối. Trong khi đó thì tôi khát khao gần chết muốn biết về chi tiết của đời sống hàng ngày của nàng, rằng là cả nhóm làm cái nhà thứ nhất hơi trễ, cho nên qua cái nhà thứ nhì thì càng căng hơn nữa. Sau khi xong cái nhà thứ nhất thì cả đám tổ chức một cái party lớn cho cả xóm ăn mừng, rằng là cả đám được khen đi khen lại nức nở cả buổi chiều tối. Nàng cũng cho biết là cả nhóm có lại nhà hàng Shrimp Shack ăn mừng, và Tim tuyên bố là cái e của nhà hàng này là số dách trong số những nhà hàng anh đã ăn qua. Phần lớn mấy môn học nàng đăng ký đều được theo ý muốn, và nàng rất vui khi được học môn tâm lý thanh niên với Dr Barnes, người có bài đăng trên một cái tạp chí bí mật nào đó về tâm lý học. Tôi không cần phải tin là nàng nhớ đến tôi mỗi khi cắn móng tay hay kéo cánh cửa sổ, hay là những lúc nói chuyện với Tim lúc nào nàng cũng ước gì là tôi có mặt ở đó. Tôi muốn nghĩ là cái tình của tôi và nàng sâu sắc hơn những điều này, và càng nghĩ thì tôi thấy càng yêu nàng dữ dội hơn.

Dĩ nhiên là tôi cũng muốn biết là nàng vẫn còn nghĩ về tôi, và về chuyện này thì Savannah không bao giờ làm tôi thất vọng. Đây là lý do tại sao tôi giữ kỹ mấy lá thư của nàng. Gần cuối thư, lúc nào cũng có vài câu, hay ngay cả một đoạn đặc biệt, những gì nàng viết thường làm tôi đọc đi đọc lại rồi rán tưởng tượng ra tiếng nàng nói. Giống như khúc này trong lá thư thứ nhì:

Khi em nghĩ tới anh và em, tới những gì hai đứa chia xẻ nhau, em biết là thiên hạ sẽ nói là chỉ là vài ngày lãng mãn nghỉ hè ở biển, xong đường ai nấy đi, nói chi chuyện tương lai. Cho nên em không kể cho ai nghe chuyện hai đứa mình. Sẽ chẳng có ai hiểu được hết, em thấy mình không cần phải cắt nghĩa dài dòng, bởi vì tận đáy lòng mình em tự biết là tình ta rất thật. Khi nghĩ đến anh, em cứ mỉm cười một mình, biết rằng là đôi ta xứng đôi. Em yêu anh không phải chỉ bây giờ mà sẽ mãi mãi, và mơ tới ngày được anh ôm trong vòng tay.

Hay là đoạn này, từ cái lá thơ nàng trả lời sau khi tôi gởi cho nàng một tấm hình của tôi.

Và sau cùng em cám ơn anh đã gởi cho em tấm hình. Em đã cất nó trong bóp. Trông anh mạnh khỏe và vui vẻ, nhưng nói thiệt là em đã khóc khi nhìn bức hình. Không phải vì nó làm em buồn, vì em đâu gặp mặt anh được, nhưng nó làm em vui. Nó nhắc nhở em là có anh trong đời là một điều tốt đẹp nhứt trong đời em.

Và đây là trong lá thư nàng gởi khi tôi ở Kosovo:

Phải nói là lá thư vừa rồi của anh làm em lo. Em muốn nghe anh kể chuyện bên đó, nhưng mỗi lần đọc tới là lại nín thở và lo sợ cho anh. Ở đây em thì lo chuyện bài vở cho kỳ thi sắp tới, lo chuyện về nhà nghỉ lễ Tạ Ơn, còn anh thì xông pha nơi tiền tuyến, chung quanh toàn những người muốn hại anh. Em ước gì những người đó cũng biết anh như là em biết vậy, để anh sẽ được an toàn. Giống như là em cảm thấy an toàn khi ở trong vòng tay anh.

Giáng Sinh năm đó thiệt te tua, nhưng Giáng Sinh nào lại chẳng vậy khi xa nhà. Đây không phải là lần đầu tiên tôi ăn Giáng Sinh xa nhà trong mấy năm đi lính. Năm nào cũng ở Đức cả, vài thằng trong trại kiếm đâu đó một nhánh cây tầm bạ tầm bạ rồi treo đèn chớp nháy và đồ trang trí lên làm cây thông Noel. Hơn một nửa tiểu đội đã về nhà – tôi là một trong mấy tên kém may mắn phải ở lại bám trụ để lỡ mấy thằng Liên Xô khùng khùng tưởng là Mỹ và Nga vẫn còn là kẻ thù rồi làm bậy. Vào đêm Giáng Sinh phần lớn anh em vô thành phố chơi và uống bia Đức thả dàn. Tôi đã mở gói quà Savannah gởi – một cái áo len làm tôi nhớ lại mấy cái áo len kiểu của Tim mặc và một gói cookies tự nàng nướng ở nhà – và tôi biết là nàng đã nhận hũ dầu thơm tôi gởi cho nàng. Tôi ở trại có một mình, để tự thưởng, tôi gọi điện thoại cho Savannah. Nàng đâu có chờ tôi gọi, và cái giọng vui mừng của nàng rổn rảng trong tai tôi cả mấy tuần sau. Hai đứa tôi nói chuyện hơn một tiếng đồng hồ. Tôi nhớ giọng nói nàng quá cỡ. Tôi quên mất cái điệu nói nhịp nhàng và giọng mũi nặng hơn những khi nàng bắt đầu nói nhanh. Tôi ngồi dựa ngửa trên ghế, tưởng tượng là nàng ngồi bên tôi kể chuyện tuyết rơi bên ngoài. Tôi nhận ra là tuyết cũng rơi bên ngoài cửa sổ trại, làm cho trong một khoảnh khắc tôi tưởng là hai đứa đang ngồi bên nhau thiệt.

Tới tháng giêng 2001 thì tôi bắt đầu đếm coi còn mấy ngày nữa thì được gặp nàng. Tôi sẽ được đi phép vào tháng Sáu và sẽ giải ngũ cuối năm. Buổi sáng, thức dậy tôi tự nhủ là còn 360 ngày nữa, rồi 359, 358 cho tới ngày tôi giải ngũ, nhưng tôi sẽ được gặp lại Savannah trong 178, rồi 177 rồi 176 ngày nữa, vân vân và vân vân. Cái vụ đếm ngày này rất thật, thật đến nỗi làm tôi mơ đến chuyện giả ngũ xong về lại North Carolina, nhưng đồng thời nó lại làm cho ngày tháng dài ra. Hình như thời gian lúc nào cũng đi chậm lại nếu mình chờ đợi chuyện gì đó. Làm tôi nhớ lại hồi còn nhỏ trông cho mùa hè chóng tới. Cũng nhờ mấy lá thơ của Savannah chớ không là nỗi chờ đợi còn kéo dài lê thê hơn nữa.

Ba tôi cũng có viết thư. Không thường như Savannah như theo cái thời khóa biểu hàng tháng của ổng. Tôi ngạc nhiên là thư của ổng giờ dài hơn gấp hai gấp ba hồi trước. Có một trang là chuyên cho việc sưu tầm tiền cắc của ổng. Khi nào rảnh tôi lên phòng máy tính, vô mạng và nghiên cứu thêm về tiền cắc. Tôi tìm tòi tài liệu về một số đồng cắc, thu lượm lịch sử của nó, rồi gởi thư về cho ba tôi. Tôi thề là lần đầu tiên trong đời tôi làm mấy vụ này, tôi thấy dấu nước mắt khô đọng trong lá thư ba tôi gởi qua. Thiệt ra không phải vậy – tôi chỉ tưởng tượng vậy thôi vì ổng không bao giờ nhắc tới chuyện này – nhưng tôi muốn tin là ba tôi đã đọc những gì tôi thu lượm cũng chăm chú như là ổng đọc tờ Greysheet vậy.

Trong tháng Hai đơn vị tôi tham dự một cuộc tập trận của NATO, đại khái là “giả bộ là đang ở một chiến trường hồi 1944,” tụi tôi thì làm bộ là đang bị một đội xe tăng tấn công ở một cùng quê nước Đức. Theo ý tôi thì những cuộc tập trận như vầy thiệt là vô ích. Chiến tranh kiểu này xưa rồi, còn đâu cái kiểu mấy tên pháo binh Tây Ban Nha bắn mấy cây đại bác tầm gần và mấy tên kỵ binh của Mỹ cưỡi ngựa lại giải cứu. Thời bây giờ, đâu có ai biết kẻ thù là ai đâu, ai cũng nghĩ là Nga Sô, nhưng Nga Sô giờ lại là đồng minh, thành ra không biết tập trận kiểu này làm chi nữa. Nhưng giả sử mà Nga Sô không là đồng minh của Mỹ thì thực tế là tụi nó đâu còn có bao nhiêu xe tăng xài được đâu. Mà nếu tụi nó có bí mật sản xuất hàng ngàn xe tăng bên Tây Bá Lợi Á để tính tấn công châu Âu thì cũng không ăn thua gì. Vì xe tăng mà dàn hàng ngang thì sẽ có máy bay dàn chào tụi nó chớ đâu tới tay bộ binh như tụi tôi. Nhưng mà tôi chỉ là thằng lính quèn, chỉ đâu đánh đó mà. Rồi thêm thời tiết thiệt là te tua nữa, cái khối khí lạnh chạy xuống từ Bắc Cực ngay lúc mới bắt đầu cuộc tập trận. Nó thật là kinh hoàng, tuyết lạnh rồi thêm mưa đá, bão tuyết, gió tới trăm cây số một giờ, làm tôi nghĩ tới đoàn quân của Nã Phá Luân trên đường rút lui từ Moscow về Pháp năm xưa.Trời lạnh đến nỗi tuyết đông lông mày cứng ngắt, thở ra thở vô thấy đau, và mấy ngón tay cứng ngắt, lạng quạng lỡ đụng vô nòng úng là dính luôn. Giựt ra đau diếng, tôi mất một chút da ở đầu mấy ngón tay về vụ này. Nhưng tôi rán che mặt mình và mang bao tay, và tiếp tục bước qua mấy vũng bùn đông đá vì mấy đợt tuyết rơi, rán giữ để không biến thành một tượng nước đá trong khi giả bộ đánh đấm với kẻ thù.

Tụi tôi tập trận mười ngày. Một nửa lính của tôi bị lở lác vì sương giá, một nửa còn lại thì bị cảm lạnh, khi xong thì cả đội còn đâu chừng vài mạng đứng dậy nổi, kể cả tôi. Cả kỳ tập trận này là bôi bác nhứt trong đời nhà binh của tôi. Đó là tôi đã làm rất nhiều chuyện bôi bác vì tổ quốc Cờ Hoa và quân đội. Cuối kỳ tập trận, ông tư lệnh sư đoàn xuống trại khen tụi tôi đã đánh đấm giỏi. Tôi muốn nói thẳng cho ổng biết là để thì giờ cho anh em học hỏi về chiến thuật hiện đại thì hay hơn, còn nếu không thì nên coi mục tiên đoán thời tiết trên TV trước khi dẫn quân đi tập trận. Nghĩ thì nghĩ vậy thôi chớ tôi cũng đứng chào nghiêm chỉnh, nhận lời khen đường hoàng.

Sau đó tôi nằm lì ở căn cứ mấy tháng không có chuyện gì làm. Đại khái thì lâu lâu cũng có huấn luyện về vũ khí hay hành quân, và đôi khi cả đám kéo nhau xuống phố uống bia, nhưng phần lớn thì giờ tôi tập tạ cọng dồn lại hàng tấn, chạy bộ hàng mấy trăm dặm và đánh box với Tony.

Mùa xuân ở Đức không đến nỗi nào sau cái vụ tập trận vừa rồi. Tuyết tan, hoa nở, khí trời ấm lần. Thiệt ra thì cũng chẳng ấm áp gì nhưng ít ra là trên dê rô độ, và đủ ấm để cả đám mặc quần xà lõn ra ngoài trời chơi ném dĩa hay bóng ném. Tháng Sáu tới gần, tôi nôn nóng tới ngày đi phép về thăm lại North Carolina. Savannah đã tốt nghiệp và đang học mấy khóa học mùa hè cho chương trình Master, cho nên tôi dự định sẽ về Chapel Hill trước. Hai đứa sẽ có hai tuần vung vít với nhau cho thỏa lòng mong nhớ, xong mới về Wilmington thăm ba tôi, nàng sẽ đi với tôi. Tôi thấy vừa vui mừng vừa hồi hộp lo sợ về cái chuyện gặp lại nhau này. Đành là hai đứa gởi thư và nói chuyện qua điện thoại thường xuyên. Đành là tôi cũng ra ngoài trời nhìn trăng nhớ nàng mỗi đêm trăng tròn hàng tháng, và nàng viết thư cho biết là nàng cũng làm như vậy. Nhưng tôi không gặp nàng cả năm nay rồi, và tôi không biết nàng sẽ phản ứng ra sao khi hai đứa gặp lại nhau. Có thể nàng sẽ nhảy xổng vào ôm chặt lấy tôi, hay có thể sẽ bớt lộ liễu hơn một chút, một nụ hôn nhẹ nhàng trên má chẳng hạn. Hai đứa sẽ nói chuyện mùi mẫn liền, hay là khách sáo, ngượng ngạo, nói chuyện trên trời dưới đất trước. Tôi cũng không biết nữa. Nằm đêm tôi tưởng tượng ra đủ mọi tình huống. Tony hiểu được nỗi lòng của tôi, và thông cảm không đem chuyện về phép ra chọc tôi. Thay vào đó, khi ngày phép gần kề, nó vỗ vai tôi:

“Sắp được gặp lại em rồi,” nó nói. “Sẵn sàng rồi chứ gì?”

“Ừ.”

Nó chọc. “Đừng quên đem theo vài chai rượu tequila nghe.”

Tôi nhăn mặt, và Tony phá ra cười.

“Mọi chuyện sẽ êm đẹp mà,” nó nói. “Em yêu mầy mà, khỏi lo. Mầy yêu em nhiều quá cỡ thợ mộc mà em không yêu lại mầy sao được.”

 
Nguyễn Sĩ Hạnh phỏng dịch

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Bình Luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Scroll Up