phỏng dịch truyện Dear John của Nicholas Sparks

Tôi không biết đi đâu nên lái xe chạy lòng vòng một chặp, chuyện hồi tối diễn qua diễn lại trong đầu tôi. Tôi vẫn còn phỉ nhổ chính mình, chỉ về việc đánh Tim hộc máu thôi – còn mấy tên khác thì thiệt tình là kệ cha tụi nó – và giận Savannah về những gì xảy ra trên cầu tàu.

Tôi không nhớ được mọi chuyện đã bắt đầu ra sao. Một phút trước đó tôi nghĩ là mình thương Savannah quá sức tưởng tượng và phút sau là hai đứa cãi nhau. Tôi giận vì những lý luận lòng vòng của nàng, nhưng không hiểu tại sao tôi lại giận quá độ vậy. Ba tôi và tôi cũng đâu có gần gũi gì cho lắm; đâu phải là tôi hiểu ba tôi trăm phần trăm. Cho nên không biết tại sao tôi nổi giận đùng đùng vậy. Và tại sao tới giờ tôi cũng còn giận trong bụng.

Bởi vì là có một giọng nói trong tôi hỏi nhỏ, biết đâu là nàng nói đúng?

Dù sao đi nữa chuyện này cũng không thành vấn đề. Ba tôi bị tật hay không thì có sao đâu. Ba vẫn là ba, đâu có gì khác? Tại sao nàng chen vô chuyện này làm chi?

Vừa lái xe tôi vừa chuyển từ giận dữ qua chấp nhận rồi qua lại giận dữ. Tôi lại càng thấy phỉ nhổ chính mình hơn khi thấy mình nhớ lại cái cảm giác đã đã khi cùi chỏ đánh trúng Tim. Tại sao anh chàng lại nhào vô làm chi? Tại sao không là một trong mấy tên khác? Tôi đâu có gây sự đâu.

Còn Savannah…, biết đâu ngày mai tôi có thể bò lại chỗ nàng ở mà xin lỗi. Tôi tin là nàng thiệt tình tin tưởng ở những điều nàng, nói theo cái kiểu của nàng. Và nếu mà nàng đúng thì tôi cũng muốn biết. Biết đâu nhờ đó tôi có thể học thêm một đôi điều…

Nhưng còn chuyện tôi đánh Tim sặc máu? Không biết nàng sẽ phản ứng ra sao? Tim là bạn thân của nàng, ngay cả nếu tôi có thề sống thề chết là chỉ vô tình thì cũng chẳng ăn thua gì không? Còn mấy tên khác thì sao? Nàng biết tôi là một tên lính chiến thứ dữ, nhưng giờ nàng đã thấy một phần cái dã biền của tôi thì liệu nàng còn thương tôi?

Khi tôi về tới nhà thì đã quá nửa đêm. Tôi bước vô nhà, tối om, nhìn vô phòng làm việc của ba tôi, xong đi về phòng ngủ của mình. Dĩ nhiên là ổng đã đi ngủ rồi, đêm nào ổng cũng đi ngủ đúng giờ. Ba là một người theo cái kiểu “một ngày như mọi ngày”, như tôi đã biết, và Savannah đã chỉ ra.

Tôi leo lên giường, biết là thế nào cũng không ngủ được, và ước ao là làm sao có thể sống lại buổi tối khác đi. Ít ra là từ cái lúc Savannah cho tôi cuốn sách. Tôi không muốn nghĩ về chuyện này nữa. Tôi không muốn nghĩ về ba tôi hay về Savannah hay về chuyện tôi đánh trúng Tim. Nhưng suốt đêm, nằm nhìn lên trần nhà, không làm sao mà quên được.

Tôi thức dậy khi nghe ba tôi lục đục trong nhà bếp. Tôi còn mặc quần áo tối hôm qua nhưng chắc là ba tôi cũng chẳng để ý.

“Ba thức dậy rồi hả?” tôi lầm bầm.

“Ừ,” ba tôi nói, “Mình ăn sáng nghen.”

“Dạ,” tôi nói. “Ba pha cà phê chưa”

“Rồi, trong bình đó.”

Tôi rót cho mình một li cà phê. Khi ba tôi lui cui nấu nướng thì tôi liếc qua mấy tin chính trong trang đầu của tờ báo, biết là ba tôi sẽ đọc trang đầu, rồi tới tin địa phương. Ổng sẽ không thèm nhìn tới mục thể thao và đời sống. “Một ngày như mọi ngày” mà.

“Tối qua ba ra sao?” tôi hỏi.

“Thì cũng vậy vậy,” ổng nói. Tôi cũng không ngạc nhiên khi thấy ba tôi thay vì hỏi lại tôi thì chỉ tiếp tục với cái chảo chiên trứng. Còn thịt bacon thì đang xèo xèo thơm phức. Xong ổng quay lại, chưa mở miệng là tôi đã đoán ra là ổng sẽ nói câu gì rồi.

“Con bỏ mấy lát bánh mì vô cái máy nướng dùm ba.”

Ba tôi ra khỏi nhà đi làm đúng ngay lúc 7:35.

Ba tôi đi rồi, tôi một mình ngồi liếc sơ qua tờ báo, trong lòng chẳng hứng thú gì với mấy tin tức. Tôi cũng không muốn đi trượt sóng, hay ngay cả chuyện ra khỏi nhà, và đang phân vân không biết có nên bò vô giường ngủ tiếp cho khỏe thân thì nghe có tiếng động trước nhà. Tôi tưởng chắc là mấy người đi bỏ mấy tờ quảng cáo; và ngạc nhiên nghe tiếng gõ cửa.

Tôi mở cửa, và cứng người, ngạc nhiên. Tim chuyển thế đứng từ chân này qua chân kia. “Hi, John,” Tim nói. “Tôi biết là mới sáng sớm, mong anh đừng phiền.”

Mặt Tim có băng dán ngang mũi, da chung quanh hai mắt bầm tím.

“Không sao… xin mời anh vô nhà,” tôi nói, đứng né qua một bên, trong đầu vẫn còn ráng tiêu hóa cái chuyện Tim lại thăm tôi. Tim bước qua mặt tôi, vô thẳng phòng khách.

“Tôi tìm nhà anh không muốn ra,” anh nói.” Lần trước đưa anh về nhà tôi không để ý kỹ kưỡng, mà lại buổi tối nữa. Bữa này lái qua lái lại mấy lần mới nhớ.”

Tim lại mỉm cười, tôi để ý là anh cầm trên tay cái túi giấy.

“Anh uống li cà phê nghe?” Tôi hỏi, tỉnh lại từ cái ngạc nhiên lúc đầu. “Trong bình cũng còn một hai li.”

“Xin miễn. Tôi thức gần như suốt đêm, cho nên không muốn uống cà phê bây giờ. Chút xíu nữa về tới nhà tôi muốn ngủ bù lại một chút.”

Tôi nhún vai. “Về chuyện tối hôm qua…” tôi bắt đầu, “Tôi xin lỗi. Tôi chỉ vô ý…”

Tim đưa tay lên cản tôi nói tiếp. “Không có gì. Tôi biết là anh đâu cố ý. Đúng ra là tôi nên cẩn thận hơn, và kéo mấy cậu kia ra.”

Tôi nhìn anh. “Có đau lắm không vậy?”

“Không đến nỗi nào,” anh nói. “Chỉ có cái kẹt là trúng bữa phòng cấp cứu đông bệnh nhân quá. Chờ một hồi lâu mới gặp được bác sĩ, rồi ổng lại kêu một bác sĩ khác lại sửa mũi của tôi nữa. Họ bảo đảm mũi tôi sẽ ngon lành như mới. Có thể sẽ có cái thẹo nhỏ, nhưng biết đâu nhờ vậy mà mặt tôi nhìn ngầu hơn.

Tôi cuời mỉm, xong lại thấy xấu hổ vì đã cười. “Tôi xin lỗi.”

“Đâu có lỗi phải gì đâu, tôi bỏ qua rồi,” anh nói. “Cám ơn anh mở miệng xin lỗi, nhưng tôi tới thăm anh không phải về chuyện lỗi phải.” Anh chỉ tay về ghế xa lông. “Cho tôi ngồi xuống một chút, tôi thấy hơi chóng mặt.”

Tôi ngồi xuống ghế xa lông, hai cùi chỏ chống lên đùi, chồm ngườì về phía trước. Tim ngồi trên ghế xa lông dài, nheo mắt vì thấy đã quá. Anh để cái túi giấy bên cạnh mình.

“Tôi muốn nói chuyện với anh về Savannah,” anh nói. “Và về chuyện tối qua.”

Cái tên Savannah làm tôi quay lại với thực tế, và tôi nhìn xuống đất.

“Anh biết tụi tôi là bạn thân với nhau, phải không?” Không chờ cho tôi trả lời. “Đêm qua ở nhà thương tụi tôi nói chuyện rất nhiều, và bữa nay tôi tới đây chỉ để xin anh đừng giận Savannah vì những điều cổ đã làm. Cổ biết là cổ có lỗi, và nhìn nhận là việc chẩn bệnh cho ba anh không phải là chuyện của cổ.”

“Vậy thì sao cổ không lại đây với anh?”

“Cổ đang ở chỗ xây nhà. Phải có người chỉ huy trong khi tôi dưỡng bệnh. Cổ cũng không biết tôi lại đây nữa.”

Tôi lắc đầu. “Tôi cũng không biết tại sao mình lại nổi giận như khùng vậy.”

“Bởi vì anh không muốn nghe những chuyện này,” anh nói, thấp giọng. “Tôi cũng thường cảm thấy như vậy khi nghe ai nói về thằng em trai mình, Alan. Nó bị autistic.”

Tôi nhìn lên. “Ủa té ra Alan là em của anh?”

“Đúng vậy, sao anh biết Alan? Tim hỏi. “Có phải do Savannah kể?”

“Chút chút,” tôi nói, không chỉ nhớ Alan mà nàng còn nói về người anh kiên nhẫn với Alan, người đã làm nàng lựa chuyên ngành về giáo dục đặc biệt.

Trên ghế xa lông, Tim nheo mắt lại khi rờ tới mấy chỗ bầm tím dưới mắt mình. “Nói cho anh biết,” anh tiếp tục, “Tôi đồng ý với anh, chẩn bệnh không phải là chuyện của cổ, và tôi cũng đã nói cho cổ như vậy. Anh có nhớ là tôi có lần nói là cổ nhiều khi ngây thơ không? Chuyện này là như vậy. Cổ muốn giúp đỡ người khác, nhưng nhiều khi bị hiểu lầm.”

“Không phải chỉ lỗi ở Savannah,” tôi nói. “Lỗi một phần ở tôi nữa. Như tôi đã nói, tôi cũng hơi quá đáng.”

Tim nhìn tôi chằm chằm. “Anh có nghĩ là có thể Savannah nói đúng?”

Tôi nắm hai tay mình lại với nhau. “Tôi không biết. Tôi nghĩ là không, nhưng…”

“Nhưng anh không biết. Nhưng nếu mà có đúng đi nữa thì cũng đâu có nhằm nhò gì, phải không?”

Không chờ tôi trả lời, “Tôi trải qua chuyện này rồi.” Anh nói. “Tôi nhớ những gì mà ba má tôi và tôi đã trải qua với Alan. Trong một thời gian dài cả nhà không biết Alan bị tật gì. Rồi anh biết là tôi tính sao không? Alan có bịnh tật gì đi nữa thì cũng chẳng thành vấn đề. Tôi cũng sẽ luôn luôn thương yêu và lo cho nó… Nhưng nếu tôi biết thêm về cái tật của nó thì hai anh em dễ thông cảm nhau hơn. Khi mà biết nó bị tật gì rồi thì nó có làm mấy chuyện ngược đời một chút thì tôi cũng bỏ qua không để ý.”

Tôi rán tiêu hóa cái ý của Tim. “Lỡ Alan không bị Asperger thì sao?” Tôi hỏi. “Làm sao biết chắc được.”

“Còn nếu Alan bị thì sao?”

Tim thở dài. “Mọi chuyện đâu có đơn giản như vậy, như là trong mấy trường hợp bị sơ sơ,” Tim nói. “Đâu có phải chỉ như là lấy máu đi thử nghiệm là biết có hay không liền. Mình chỉ có thể rán tìm cho tới một lúc nào đó mà thôi. Có thể là có, nhưng mà không bao giờ chắc chắn được. Nghe Savannah kể thì thực tình tôi nghĩ là ba anh đã như vậy rồi thì đâu có cần gì thay đổi. Ổng đi làm, nuôi anh ăn học… làm cha như vậy là nhứt rồi.”

Tôi ngẫm nghĩ những điều Tim nói trong khi hình ảnh của ba tôi chớp nháng trong đầu tôi.

“Savannah mua cho anh cuốn sách,” Tim nói.

“Tôi không biết nó lạc ở đâu,” tôi thú thiệt.

“Tôi giữ nó,” Tim nói. “Tôi đem lại cho anh đây.” Anh đưa cho tôi cái túi giấy. Không biết vì sao mà làm như cuốn sách nặng hơn hôm qua.

“Cám ơn anh.”

Tim đứng dậy, và tôi biết cuộc nói chuyện vậy là gần xong. Tim bước ra cửa nhưng khi tay cầm chốt cửa thì quay lại.

“Anh không phải đọc cuốn sách nếu thấy không thích nó,” Tim nói.

“Tôi biết.”

Tim mở cửa, xong ngừng lại. Tôi biết là anh muốn nói thêm điều gì đó, nhưng tôi ngạc nhiên là anh nói mà không qua lại. “Có phiền gì không nếu tôi nhờ anh một viêc?”

“Không có gì đâu.”

“Xin đừng có làm Savannah buồn. Tôi biết là cổ thương anh, và tôi chỉ muốn cổ vui vẻ hạnh phúc.”

Tôi biết là tôi đã không lầm về cái tình cảm của anh chàng dành cho Savannah. Qua cửa sổ tôi nhìn Tim đi tới xe và biết chắc là anh chàng cũng thương Savannah.

Tôi để cuốn sách qua một bên, bước ra khỏi nhà đi dạo một vòng; khi về lại nhà, tôi cũng tránh nhìn tới cuốn sách. Tôi cũng biết vì sao nữa, chỉ thấy sờ sợ cuốn sách sao đó.

Tuy nhiên một hai giờ sau đó tôi dẹp cái cảm giác sợ sệt qua một bên và đọc cuốn sách cả buổi chiểu, rán hiểu nội dung của nó và nhớ tới những kỷ niệm với ba tôi.

Tim nói đúng. Không có cách chẩn bệnh chính xác, không có nguyên tắc rõ ràng để phân biệt, và sẽ không có cách nào để tôi biết chắc chắn là ba tôi có bị tật hay không. Nhiều người bị Asperber có chỉ số thông minh rất thấp, trong khi nhiều người bị nặng hơn – như nhân vật do Dustin Huffman đóng trong phim Rain Man – thì là được đánh giá như là thiên tài trong một lĩnh vực nào đó. Vài người có thể sống bình thường trong xã hội mà không ai hay, nhiều người thì lại phải vô viện suốt đời. Tôi đọc tiểu sử một vài người bị Asperger mà là thiên tài về âm nhạc hay toán, nhưng tôi cũng đọc được là mấy người như vậy cũng hiếm có như là thiên tài trong đám người bình thường vậy. Nhưng quan trọng nhứt là tôi biết là thời ba tôi còn nhỏ, không có mấy bác sĩ hiểu biết về mấy tật này, và nếu có gì bất thường đi nữa thì ba má trong nhà cũng không biết. Thay vào đó mấy đứa nhỏ bị Asperger hay autism thường khờ khạo hay mắc cỡ, và nếu không vô viện thì ba má cũng chỉ biết tự an ủi là biết đâu một ngày nào đó đứa trẻ sẽ bình thường trở lại. Khác nhau giữa người bị Asperger và autism có thể tóm tắt như sau: người bị autism sống trong thế giới của họ, trong khi người bị Asperger sống trong thế giới của người bình thường nhưng theo cái kiểu riêng của họ.

Nói theo kiểu này thì dám thiên hạ ai cũng bị Asperger cả. Nhưng có nhiều điều chứng tỏ rằng Savannah đã nhận xét đúng về ba tôi. Cái kiểu “một ngày như mọi ngày“, cái kiểu bất cần người xung quanh, cái kiểu trên đời chỉ có mỗi chuyện tiền cắc là hứng thú, cái kiểu thích solo một mình – mấy kiểu này người bình thường ai cũng có thể có, nhưng đối với ba tôi thì lại khác. Trong khi những người bình thường có thể tự ý lựa chọn sống theo kiểu này thì ba tôi – giống như mấy người bị Asperger – lại bị sống như vậy. Ít ra là tôi học được vài cách cắt nghĩa cái tính tình của ba tôi, và nếu đúng như vậy thì không phải là ổng không muốn thay đổi nhưng không biết làm sao để thay đổi. Biết được vầy, dù không là chắc chắn nhưng cũng làm tôi an tâm trong bụng một chút. Và tôi lờ mờ đoán ra câu trả lời cho hai câu hỏi về má tôi mà lâu này cứ nhức nhói hoài trong đầu tôi: Vì sao má tôi thương ba tôi, và vì sao bã bỏ ổng?

Chắc là sẽ không bao giờ tôi biết được câu trả lời chính xác, và tôi cũng không muốn nghĩ ngợi thêm làm gì. Nhưng trong nhà yên tịnh quá, óc tưởng tượng của tôi trở nên phong phú, tôi nghĩ ra cái cảnh một người đàn ông ít nói bắt chuyện về sưu tầm tiền cắc với một cô bồi bàn nghèo ở một quán ăn, cô bồi bàn làm việc cực nhọc, tối nào về lên giường ngủ cũng mơ ước tới một đời sống tốt đẹp hơn. Có thể cô thích ổng, có thể cô không có tình ý gì, nhưng ổng mê cổ và tối nào cũng lại quán. Từ từ có thể cổ cũng cảm nhận được cái tình thương và lòng kiên nhẫn của ổng, những thứ mà sau này ổng dùng để nuôi tôi khôn lớn. Có thể cổ biết chắc cái tính trầm lặng của ổng, và biết là ổng sẽ ít khi nổi giận và không bao giờ đánh đập vợ con. Như vậy cũng đủ rồi, mặc dù không có tình yêu nhưng cổ cũng chịu lấy ổng, tính tới chuyện mai mốt lấy nhau rồi thì sẽ bán bộ sưu tập tiền cắc, nếu không sống hạnh phúc với nhau thì ít ra cũng thoải mái về vật chất. Cô có bầu, và sau đó khám phá ra là ông chồng mình không bao giờ tiêu hóa nổi cái ý tưởng bán mấy bộ sưu tầm, và cô nhận ra là mình kẹt cứng với một ông chồng không cùng chung một sở thích nào hết. Có thể cô ích kỷ, có thể cô đơn quá chịu không nổi, vì lí do nào đi nữa thì cô cũng muốn thôi chồng, và khi sinh con xong, hết nợ là cô bỏ đi liền.

Nhưng biết đâu chuyện không phải vậy, tôi nghĩ.

Chắc là tôi sẽ không bao biết được sự thật nhưng tôi chẳng thèm để ý tới. Tuy nhiên tôi lo cho ba tôi, và nếu đầu óc ổng có lộn xộn một chút, thì tôi cũng hiểu được là bằng một cách nào đó ổng tìm ra được một số nguyên tắc luật lệ để mà sống với mọi người. Mấy nguyên tắc luật lệ này có thể không bình thường cho lắm nhưng dù sao đi nữa cũng giúp ổng nuôi dạy tôi khôn lớn. Và đối với tôi như vậy là đủ rồi.

Ổng là ba của tôi, và ổng đã làm hết sức mình. Bây giờ thì tôi biết như vậy. Tôi gấp cuốn sách lại, để qua một bên, nhìn đăm đăm qua cửa sổ, thấy hãnh diện vô cùng về ba tôi trong khi rán nuốt nước miếng qua cái cuốn họng khô ráo.

Khi đi làm về, ba tôi thay quần áo xong xuống bếp nấu spaghetti. Tôi nghiên cứu từng động tác của ổng, trong bụng biết là mình đang làm những chuyện giống hệt như Savannah đã làm, chuyện đã làm tôi nổi giận với nàng. Kiến thức làm thay đổi nhận thức của người ta một cách kì lạ.

Tôi để ý tới sự chính xác khi ba tôi làm việc – cái cách ổng mở hộp spaghetti và để qua một bên và cái độ nghiêng ổng dùng muổng để xào thịt. Tôi biết là ổng sẽ nêm muối và tiêu, và đúng y chang như vậy. Tôi biết xong ổng sẽ khui hộp sốt cà chua, và một lần nữa ổng làm y chang như vậy. Như thường lệ, ổng không hỏi han gì về chuyện trong ngày của tôi, chỉ lo chăm chú chuyện nấu nướng. Hôm qua tôi nghĩ đó là vì hai cha con là hai người xa lạ; bữa nay tôi hiểu có thể là hai cha con sẽ luôn luôn xa lạ như vậy. Nhưng đây là lần đầu tiên trong đời mà cái ý nghĩ như vậy không làm cho tôi khó chịu.

Suốt bữa ăn tôi không hỏi ba tôi về chuyện trong ngày của ổng, vì biết là ổng sẽ không trả lời. Thay vào đó tôi kể chuyện Savannah và hai đứa tôi đi chơi ra sao. Ăn xong tôi phụ ổng rửa chén, tiếp tục cuộc đàm thoại một chiều. Rửa xong, ba tôi lấy miếng khăn lau ra lau qua bếp một lần nữa, xong quay chai tiêu và chai muối cho đúng phía như lúc chiều. Tôi có cảm tưởng là ba tôi muốn nói thêm chuyện gì đó mà không biết cách, nhưng tôi nghĩ là chắc tôi tưởng tượng như vậy để tự an ủi mình. Đâu có sao đâu. Tôi biết là đã tới giờ ba tôi lui vô phòng làm việc của ổng.

“Ba ơi,” tôi nói. “Ba cho con coi mấy đồng tiền ba mới sưu tầm được sau này. Con muốn nghe ba kể chuyện về mấy đồng tiền này.”

Ba tôi nhìn tôi như thể không biết là ổng nghe có lộn không, xong ổng nhìn xuống đất. Ổng vuốt mái tóc lèo tèo mấy sợi, tôi thấy mảnh đầu hói ở giữa càng ngày càng rộng ra. Khi nhìn lên lại tôi, ba tôi hầu như lo sợ, không biết thằng con bữa nay trở chứng gì đây.

“Được rồi.” ba tôi nói.

Hai cha con bước vô phòng làm việc, và khi cảm thấy bàn tay ba tôi đặt nhẹ lên lưng tôi, trong đầu tôi chỉ còn nghĩ được là mười mấy năm nay chưa bao giờ tôi thấy mình gần gũi với ổng như lúc này.

 
Nguyễn Sĩ Hạnh phỏng dịch

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Bình Luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Scroll Up