phỏng dịch truyện Dear John của Nicholas Sparks

Điều chắc chắn là những hình ảnh của 9.11 sẽ không bao giờ phai mờ trong đầu tôi. Tôi coi cái cảnh khói bốc lên từ hai tòa nhà Twin Tower và Ngũ Giác Đài và nhìn thấy những khuôn mặc rầu rĩ của những đồng đội ngồi bên cạnh mình nhìn thiên hạ nhảy đại từ trên lầu cao xuống cõi chết. Tôi chứng kiến cảnh những tòa cao ốc sụp đổ và đám bụi khổng lồ bốc lên. Tôi cảm thấy tức tức khi Tòa Bạch Ốc phải di tản.

Chỉ trong vòng vài giờ sau tôi biết ngay là Hoa Kỳ sẽ phản pháo, và quân đội sẽ đi tiên phong trong chuyện này. Căn cứ được đặt trong tình trạng báo động đỏ. Và đây là lúc tôi cảm thấy tự hào nhứt về những đồng đội của mình. Những ngày kế tiếp, dường như mọi khác biệt cá nhân và lập trường chính trị đều biến đi. Trong một thời gian ngắn, mọi người đều chỉ coi mình là người Mỹ. Nhân viên tuyển mộ bắt đầu làm việc khắp mọi nẻo đường đất nước. Trong đám lính tại ngũ tụi tôi thì tinh thần chiến đấu chưa bao giờ mạnh mẽ như vậy. Tony là thằng đầu tiên trong đơn vị nộp đơn xin tái hạn thêm hai năm nữa, và trong đơn vị lần lượt từng tên, tên nào cũng bắt chước theo. Ngay cả tôi đang chờ giải ngũ tháng 12 tới và đang tính từng ngày để về lại bên Savannah cũng bị cuốn hút theo luôn.

Nói thì dễ, rằng là tôi bị ảnh hưởng bởi chung quanh, và đó là lí do tại sao tôi xin gia hạn. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Thật tình mà nói thì tôi cũng bị lôi cuốn theo cái làn sóng yêu nước, nhưng hơn thế nữa, tôi bị ràng buộc bởi tình đồng đội và trách nhiệm. Tôi biết rõ mấy thằng lính của mình, và lo cho tụi nó, và trong tình thế lúc này mà tôi mà bỏ tụi nó thì coi không được mắt tí nào. Tụi tôi đã sát cánh bên nhau biết bao trận thì trong những ngày sôi bỏng của năm 2001 làm sao tôi bỏ tụi nó mà giả ngũ cho được.

Tôi gọi điện thoại cho Savannah hay tin. Lúc đầu nàng cũng đồng ý hết mình. Cũng giống như nhiều người khác, nàng thấy kinh hoàng về những gì mới xảy ra, và nàng hiểu cái tinh thần trách nhiệm trong tôi, ngay cả trước khì tôi mở miệng rán cắt nghĩa. Nàng nói là nàng hãnh diện về tôi.

Nhưng thực tế thì rất đau lòng. Tôi đã hi sinh tình riêng của mình mà lựa chọn tổ quốc. Mặc dù chuyện điều tra mấy tên thủ phạm xong xuôi nhanh chóng, nhưng cho tới cuối năm 2001 thì cũng không có gì mới lạ cho đơn vị tôi. Sư đoàn tụi tôi không được tham dự vô chiến dịch đánh sập Taliban ở Afghanistan, trong đơn vị tôi ai cũng thất vọng. Thay vì đó, suốt mùa đông và mùa xuân, cả đám lo tập trận và chuẩn bị cho chuyện đánh Iraq trong tương lai, chuyện mà ai cũng đoán được. Tôi nghĩ là trong khoảng thời gian này thư của Savannah bắt đầu khác đi. Hồi trước thì nàng viết hàng tuần, nay thì mười ngày, rồi từ từ thưa ra hai ba tuần một lần. Tôi rán tự an ủi là nội dung thư vẫn không thay đổi, nhưng từ từ thì nội dung nàng viết cũng khác đi. Nàng không còn viết dài dòng về chuyện cuộc sống tương lai hai đứa sau này sẽ ra sao, những chuyện này luôn làm cho tôi nôn nóng ngày về. Cả hai đứa đều biết là giấc mơ đoàn tụ giờ phải chờ hai năm nữa. Mà viết về tương lai xa vời như vậy chỉ nhắc cho hai đứa sự xa cách, chỉ làm đau lòng thêm.

Rồi tới tháng Năm, tôi tự an ủi là ít ra hai đứa sẽ gặp nhau trong kỳ phép tới. Nhưng định mệnh làm như chống lại chuyện hai đứa tôi, trước ngày tôi đi phép mấy ngày thì xếp của tôi kêu tôi lên gặp ổng. Lên tới văn phòng ổng, ổng biểu tôi ngồi xuống rồi cho biết là ba tôi mới lên cơn đau tim nặng và ổng đã cho tôi thêm mấy ngày phép đặc biệt nữa. Cho nên thay vì đi về Chapel Hill với Savannah và hai tuần lễ huy hoàng thì tôi phải về Wilmington vô nhà thương nuôi bệnh ba tôi, suốt ngày hởi mùi thuốc làm tôi nghĩ tới chuyện chết nhiều hơn là chuyện lành bệnh. Khi tôi về tới nơi thì ba tôi đang ở trong khu cấp cứu cho tới lúc tôi đi. Da ổng xạm đen và hơi thở yếu mà nhanh. Tuần lễ đầu tiên, ổng lúc tỉnh lúc mê, nhưng khi ổng tỉnh thì tôi thấy những cảm xúc mà tôi ít khi thấy ở ba tôi, và chưa bao giờ thấy đồng một lúc: lo sợ tột cùng, hoang mang, và cảm động là có tôi bên cạnh ông. Nhiều lần tôi đưa tay nắm tay ông, lần đầu tiên trong đời tôi làm như vậy. Vì có cái ống chuyền qua cuống họng nên ba tôi không nói được cho nên một mình tôi độc diễn. Tôi có kể chuyện ở căn cứ cho ba tôi nghe, nhưng chính là nói chuyện tiền cắc. Tôi đọc tờ Greysheet số mới, hết xong tôi về nhà moi ra mấy số cũ đọc tiếp cho ổng nghe luôn. Tôi lên mạng, vô mấy trang như David Hall Rare Coins và Legend Numismatics, đọc cho ba tôi nghe những đồng tiền thiên hạ đăng bán và giá mới nhất. Vụ giá cả này làm tôi ngạc nhiên vô cùng, và tôi đoán là bộ sưu tầm của ba tôi, mặc dầu có xuống theo giá vàng, cũng phải cỡ gấp chục lần giá cái nhà của ổng. Ba tôi, mặc dù ngay cả như chuyện nói chuyện xã giao đơn giản cũng không rành, mà lại là người giàu nhứt trong số những người tôi biết.

Nhưng ba tôi lại không hứng thú gì tới giá trị của bộ sưu tập. Ổng nhìn chỗ khác mỗi lần tôi nhắc đến chuyện này, và tôi mới nhớ lại là mình đã quên là đối với ba tôi chuyện chính không phải là những đồng tiền cắc mà là cái thú trong khi săn đuổi, đi tìm sưu tầm tụi nó. Đối với ba tôi mỗi đồng tiền là tượng trưng cho một câu chuyện với một kết thúc tốt đẹp. Cho nên tôi rán nặn óc nhớ lại những đồng tiền mà hai cha con đã cùng nhau tìm mua hồi xưa. Cũng nhờ ba tôi ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết nên tôi có thể đọc lướt qua trước khi đi ngủ, và từ từ những kỷ niệm trở về. Sáng ngày mai tôi vô kể lại cho ba tôi nghe, chuyện hai cha con đi Raleigh, Charlotte hay Savannah. Mặc dù ngay cả bác sĩ cũng không chắc là ba tôi có qua khỏi không, nhưng chưa bao giờ ba tôi mỉm cuời nhiều như trong hai tuần này. Ba tôi xuất viện về nhà một ngày trước khi tôi hết phép, và bệnh viện thu xếp người chăm sóc ổng trong khi ổng tiếp tục dưỡng bệnh.

Trong khi ở bệnh viện nuôi bệnh ba tôi làm tình cha con giữa tôi và ba tôi lên đô thì nó lại không giúp ích gì hết cho tình yêu giữa tôi và Savannah.Thì nàng cũng ráng gặp tôi thường xuyên, và cũng thông cảm và ủng hộ tôi. Nhưng vì tôi ở bệnh viện suốt ngày nên những vấn đề nhức nhối giữa hai đứa vẫn còn nằm chình ình đó. Thiệt tình mà nói thì tôi cũng không biết mình muốn gì ở nàng nữa. Khi nàng có mặt ở đây thì tôi cảm thấy là tôi thích chỉ có hai cha con tôi thôi. Khi nàng về rồi thì tôi lại muốn có nàng bên cạnh mình. Vậy mà lui cui một mình Savannah qua được những phiền toái này mà không nổi nóng vì tôi. Dường như nàng đọc được những suy nghĩ của tôi, đoán được những gì tôi muốn, còn đúng hơn là chính tôi nữa.

Tuy nhiên điều hai đứa tôi cần la thời gian, thời gian riêng cho nhau. Tình yêu hai đứa tôi mà giống như cục bin thì thời gian xa nhau làm cho bin hết từ từ, cả hai cần thời giờ để sạc. Có lần ngồi bên giường bệnh của ba tôi, tôi lắng nghe tiếng kêu đều đặn của cái máy theo dõi tim, tôi mới nghiệm ra là tôi và Savannah chỉ ở gần nhau có bốn tuần trong suốt hai năm qua, nghĩ là ít hơn năm phần trăm. Mặc dù có thư từ và điện thọai nhưng tôi cũng lâu lâu nhìn trân trân vô tường mà thắc mắc không biết làm sao mà hai đứa vẫn còn yêu nhau cho được.

Hai đứa thỉnh thoảng cũng đi dạo lòng vòng, và đi ăn tối với nhau được hai lần. Bởi vì Savannah vừa học vừa dạy nên không thể ở lại với tôi lâu được. Tôi ráng tránh không trách cứ gì nàng về chuyện này, nhưng nếu tôi mở miệng thì hai đứa lại cãi nhau. Tôi không thích như vậy, nàng cũng vậy, nhưng coi bộ hai đứa không ai chịu nhịn ai. Mặc dù nàng không nói gì, và chối bai bải khi tôi hỏi thẳng, nhưng tôi biết lý do chính là vì tôi, là vì đúng ra là tôi đã giải ngũ và về nhà rồi chớ . Đây là lần đầu tiên và là lần duy nhất mà Savannah không nói thật với tôi.

Hai đứa tôi rán bỏ qua hết những lần cãi cọ, và lại thêm một lần chia tay đứt ruột nữa, dù rằng không quá cỡ như là lần trước. Dối lòng mà tự an ủi là chắc vì quen rồi không thấy đau khổ như lần trước, nhưng khi ngồi trên máy bay, tôi cảm thấy là tình yêu giữa hai đứa đã có thay đổi, thay đổi không thể nào đi ngược lại được. Nàng cũng không khóc nhiều chắc vì hai đứa không còn thương nhau, nhớ nhau dữ dội như lần trước.

Những cảm nhận như vậy như xát muối vào lòng, đêm rằm tháng kế đó, tôi đi lang thang một mình ra sân đá banh. Như đã hứa với Savannah, tôi nhớ lại những ngày vui bên nhau với nàng hồi kỳ đi phép lần đầu. Tôi cũng nhớ tới lần đi phép lần thứ nhì vữa rồi, nhưng kì cục là tôi lại không muốn nghĩ về kỳ phép lần thứ ba sắp tới.

Mùa hè tiếp tục, ba tôi hồi phục từ từ. Ổng viết thư cho biết là ổng đi bộ lòng vòng trong xóm ba lần mỗi ngày, mỗi lần đúng hai mươi phút, và rất là mệt sức. Được một chuyện là nhờ đó mà ổng có chuyện làm hàng ngày – vì bây giờ ổng đã về hưu – ngoài chuyện tiền cắc. Thêm vào đó ổng viết thư cho tôi thường hơn. Tôi bắt đầu gọi ổng vào thứ Ba và thứ Sáu vào lúc đúng một giờ trưa bên đó để coi sức khỏe ổng tới đâu. Tôi lắng nghe thử trong giọng nói ổng có dấu hiệu mệt mỏi gì không, và nhắc tới nhắc lui chuyện ăn uống cho đường hoàng, ngủ cho đủ giờ, và uống thuốc nghiêm chỉnh. Nói chuyện với ba tôi qua điện thoại coi bộ còn cực hơn là ngồi nói chuyện đối mặt, coi bộ làm như ổng chỉ muốn gác máy quách cho xong chuyện. Có lần tôi nói chọc ổng chuyện này, nhưng không biết là ổng có biết không. Có nhiều khi tôi cười, ổng không cười theo nhưng giọng nói dịu lại một chút xong ổng quay về lại với sự im lặng cố hữu. Tôi cũng không phiền hà gì. Tôi biết là ổng chờ tôi gọi. Lúc nào ổng cũng nhấc máy liền khi điện thoại mới reng, tôi có thể tưởng tượng ra được một cách dễ dàng là ổng ngồi nhìn đồng hồ canh chừng và chờ tôi gọi.

Tháng Tám, rồi tháng Chín, rồi tháng Mười, Savannah học xong xuôi hết, nàng rời Chapel Hill, về lại nhà với ba má trong khi tìm việc làm. Tôi đọc báo thấy Liên Hiệp Quốc và mấy nước Âu Châu đang tìm cớ để ngăn cản chuyện tụi tôi tính đánh Iraq. Tình hình căng thẳng ở thủ đô của mấy nước đồng minh NATO, tin tức báo chí TV này nọ thấy có nhiều vụ biểu tình của dân chúng, còn mấy nhà lãnh đạo thì tuyên bố mạnh mẽ là nước Mỹ sắp mắc phải một lỗi lầm to lớn. Trong khi đó thì lãnh đạo nước Mỹ ráng ra sức thuyết phục mấy ông cố nội này thay đổi ý kiến. Còn tụi tôi thì cứ lẳng lặng mà tập luyện thao dượt và chờ cho cuộc chiến bùng nổ. Đùng một cái, vào tháng 11, đơn vị tôi được lệnh trở lại Kosovo. Tụi tôi ở đó không lâu, nhưng cũng đủ dài. Lúc đó tôi cũng mệt mỏi với Balkan và cái chuyện giữ gìn giữ hòa bình quá rồi. Quan trọng hơn là mọi người ai cũng biết là chiến tranh ở Trung Đông sắp nổ ra, dù Âu Châu có muốn hay không.

Trong thời gian này, thư của Savannah lại đến thường xuyên, và tôi cũng gọi nàng đều đặn. Thuờng tôi gọi nàng lúc hừng đông, xưa giờ vẫn vậy – cỡ đó thì chừng nửa đêm ở chỗ nàng. Mặc dù lúc nào gọi cũng gặp được nàng, nhưng có đôi khi nàng không có ở nhà. Tôi rán tự an ủi mình là chắc nàng đi chơi với bạn bè hay ba má, nhưng cũng nẫu ruột lắm. Sau khi gác máy, đôi khi tôi tưởng tượng là biết đâu nàng gặp được một tên nào khác. Đôi khi tôi ráng gọi lại thêm hai ba lần, mỗi lần cách nhau một tiếng đồng hồ, trong bụng nỗi giận dữ dâng lên theo tiếng chuông reng không ai trả lời. Khi nàng bắt máy tôi có thể hỏi thử nàng đi đâu vậy, nhưng tôi không bao giờ hỏi, mà nàng cũng chẳng bao giờ tự thú. Tôi biết là đúng ra mình nên hỏi nàng quách cho khỏi phải suy nghĩ mệt óc. Thường thì tôi căng thẳng mà nàng cũng vậy. Cho nên hai đứa nói chuyện mà không vui vẻ gì hết mà chỉ trao đổi tin tức qua lại vậy thôi. Nói chuyện xong gác máy mà trong bụng tôi tự ghét cái thằng tôi về cái vụ ghen tương này, và tôi tự dằn vặt mấy ngày, tự hứa là sẽ không có cái màn này nữa.

Còn những lần khác thì Savannah giống như là Savannah trong trí nhớ của tôi, và tôi có thể cảm nhận được là nàng thương tôi đến độ nào. Qua đó, tôi thấy thương nàng quá xá như tôi vẫn hằng thương nàng xưa nay, và cảm thấy nhức nhối về những ngày vui cũ. Dĩ nhiên là tôi đoán được những gì đang xảy ra. Trong khi hai đứa tôi từ từ mất nhau thì tôi lại càng ráng kíu néo những gì hai đứa đã chia xẻ. Nhưng cái vòng lẩn quẩn, tôi càng níu kéo thì hai đứa càng dạt xa nhau hơn.

Hai đứa bắt đầu cãi lộn lai rai. Cũng như lần cãi lộn trong kỳ về phép lần thứ nhì, tôi không thể nào nói ra những suy nghĩ của mình, và nàng có nói gì đi nữa thì tôi cũng cứ thấy là nàng chả để ý gì tới những lo lắng của tôi cả. Tôi ghét những cú điện thoại như vậy còn hơn là ghét cái tính ghen tuông của mình, mặc dù tôi biết là hai chuyện này dính chùm với nhau.

Mặc dù ngăn cách nhưng tôi luôn tin tưởng là hai đứa sẽ vượt qua mọi trở ngại mà về với nhau. Tôi muốn đi chung đường đời với Savannah, muốn hơn hết trên cả mọi chuyện trên đời này. Tôi bắt đầu gọi nàng thường xuyên hơn trong tháng Chạp và rán dẹp qua một bên cái vụ ghen tương. Tôi rán tỏ vẻ hồ hỡi phấn khởi qua điện thoại, hy vọng là như vậy sẽ làm nàng thích nói chuyện hơn. Tôi nghĩ là mọi chuyện coi bộ khả quan hơn, trên bề mặt thì thấy như vậy. Nhưng bốn ngày trước Giáng Sinh tôi nhắc nàng là không đầy một năm nữa là tôi sẽ về nhà. Thay vì hồ hỡi phấn khởi theo thì nàng lại im lặng. Tôi không nghe gì hết, chỉ hơi thở của nàng.

“Em nghe có rõ không?” tôi hỏi.

“Dạ,” nàng trả lời nhỏ nhẹ. “Chỉ có cái là lần trước anh cũng nói vậy.”

Sự thiệt là vậy, cả hai đứa đều biết, nhưng làm tôi mất ngủ cả tuần.

Trăng rằm nhằm vào Tết Dương Lịch, tôi ra ngoài nhìn trăng và nhớ lại tuần lễ hai đứa bắt đầu thương nhau, những hình ảnh lộn xộn làm như bị mờ vì cái nỗi buồn đằng đẳng trong tôi. Trên đường về trại lại, mấy chục mạng hoặc đứng xây vòng hoặc dựa vô tường hút thuốc vô tư. Tụi nó làm như là không thấy là tôi đang từ từ mất tất cả những gì quan trọng nhất trong đời sao? Hay là tôi ước là mình có thể thay đổi được quá khứ? Tôi không biết, và tụi cũng không ai hỏi. Thế giới thì thay đổi nhanh chóng từng giờ từng phút. Cái lệnh mà mọi người chờ đợi lâu nay cuối cùng cũng tới vào sáng ngày hôm sau, và vài ngày sau là đơn vị tôi qua tới Thổ Nhĩ Kỳ để chuẩn bị tấn công Iraq từ hướng bắc. Tụi tôi họp hành, hoc tập về nhiệm vụ của mình, nghiên cứu địa hình địa vật và kế hoạch hành binh. Khi có chút thì giờ rảnh rỗi đi ra bên ngoài chơi thì mới thấy thiên hạ chiếu tướng tụi tôi quá trời. Tụi tôi nghe tin đồn là tụi Thổ có thể sẽ không để cho tụi tôi tấn công vô Iraq từ đất Thổ, và mấy xếp trên đang lo họp hành để giải quyết vấn đề này. Lâu nay tụi tôi nghe quen mấy tin đồn thất thiệt nhưng lần này tin đồn không thất mà thiệt, và tụi tôi lại phải qua Kuwait bắt đầu lại từ đầu.

Tụi tôi đổ bộ vào giữa buổi trưa dưới bầu trời trong xanh không một bóng mây, chung quanh là cát và cát. Ngay lập tức tụi tôi lên xe bus, đi cả mấy giờ đồng hồ, cuối cùng tới nơi đóng quân, một thành phố toàn là lều đại khái dám lớn nhứt thế giới. Quân đội rán tạo điều kiện cho tụi tôi được thoải mái. Đồ ăn thì ngon, PX có tất cả mọi thứ cần dùng, nhưng mà không có gì mới lạ. Còn thư từ thì tệ quá – tôi chẳng nhận được lá thư nào – còn điện thoại thì phải đi bộ mấy cây số. Giữa những giờ tập trận, tôi và mấy thằng đệ tử hoặc là ngồi đồng trong trại mà đoán mò khi nào thì có lệnh tấn công hay là thực tập mặc bộ quần áo chống hơi độc cho lẹ. Kế hoạch là đơn vị tôi sẽ nhập với một quân đoàn khác tấn công thẳng về Baghdad. Tới tháng Hai, sau một thời gian dài tưởng như một thiên thu trong sa mạc, tôi và đơn vị tôi nóng lòng quá cỡ thợ mộc.

Lúc đó thì nhiều đơn vị đã vô Kuwait từ hồi tháng 11, và tin đồn bay tứ tung. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa. Tôi nghe tin đồn về vũ khí sinh học và hóa học; rằng là Saddam đã rút kinh ngiệm kỳ Desert Storm nên giữ tụi Bảo Vệ Quân ở Bagdad để tử thủ. Hôm 17 tháng Ba tôi biết là sắp đánh đấm lớn. Đêm cuối cùng ở Kuwait tôi viết thư cho những người thân trong đời, để lỡ tôi một đi không trở lại, một lá cho ba tôi, một lá cho Savannah. Tối hôm đó tôi với đoàn convoy dài cả trăm cây số lầm lũi tiến vào Iraq.

Đánh đấm thì chỉ lai rai, nhứt là lúc đầu. Bởi vì tụi không quân khống chế bầu trời nên tụi tôi chả có gì lo ngại trên đầu cả, chỉ tiến quân băng băng dọc theo những xa lộ trống không. Lính Iraq không thấy mống nào hết, làm cho tôi thêm lo vì không biết là sắp tới tôi và mấy thằng lính của mình sẽ đánh đấm ra sao đây. Một vài chỗ nghe báo động về địch quân, tụi tôi lật đật mặt áo chống vũ khí hóa học vô, xong mới hay là chỉ báo động hụt lại phải cởi ra. Tinh thần mọi người căng thẳng. Cả ba đêm liền tôi không ngủ được.

Sâu trong nội địa Iraq chiến trận bắt đầu nổ ra và tôi bắt đầu học cái luật lệ đầu tiên dính tới cái chiến dịch giải phóng Iraq này là kẻ thù và phó thường dân thường nhìn không khác nhau gì mấy. Nghe có tiếng súng là tụi tôi trả đũa liền, và nhiều khi chính tụi tôi cũng không biết là mình bắn ai đây. Khi tụi tới tới tam giác Sunni thì chiến trận bắt đầu dữ dội. Tụi tôi nghe về mấy trận ở Fallujah, Ramadi, và Tikrit, do mấy sư đoàn khác đánh đấm. Đơn vị tôi nhập vô sư đoàn nhảy dù 82 đánh vô Samawah, và đó là nơi tụi tôi lần đầu tiên đụng trận thiệt tình.

Không quân trải đường. Bom, hỏa tiễn và trọng pháo đã nổ từ ngày trước, và khi tụi tôi qua cầu tiến vô thành phố, ý nghĩ đầu tiên của tôi là về sự yên tĩnh một cách kỳ lạ của phố xá. Đơn vị tôi lãnh trách nhiệm một khu phố, tụi tôi phải lùng từng nhà một để thu quét tàn quân. Từ từ những hình ảnh hiện ra nhanh chóng: xe vận tải cháy đen với xác người tài xế bên cạnh; nhà sập một nửa, xe hơi mốp méo bốc khói nằm rải rác. Tiếng súng lẻ tẻ làm cho tụi tôi phải đề cao cảnh giác. Một đôi khi vài người dân xuất hiện hai tay dơ lên đầu, và tụi tôi cũng rán cứu mấy người bị thương.

Tới xế trưa thì tụi tôi đã chuẩn bị rút lui, nhưng lại bị tấn công từ một cao ốc. Tụi tôi kẹt cứng vô tường vào nguy hiểm vô cùng. Để hai thằng bắn che, tôi dẫn mấy thằng còn lại trong tiểu đội tôi băng qua lằn đạn tới một chỗ an toàn hơn. Thiệt là một phép màu là không thằng nào bị thương. Từ chỗ này tụi tôi trả đũa, bắn xối xả vô tòa nhà. Khi nghĩ là đã an toàn rồi tụi tôi mới từ từ cẩn thận tiến vô tòa nhà. Tôi thảy trái lựu đạn nổ toang cánh cửa chính và dẫn tiểu đội tôi đi vô. Khói mù mịt và mùi lưu huỳnh nồng nặc. Bên trong nhà hư nát hết, nhưng ít nhứt là có một tên lính Iraq còn sống sót, và khi tụi tôi mới thò đầu vô là tên này khai hỏa liền. Tony bấm cò trước và tụi tôi phụ họa theo. Tiếng súng nổ dữ dội quá, tôi không nghe cả tiếng tôi hét nhưng cứ tiếp tục bóp cò, nhắm lung tung từ sàn nhà tới tường tới trần nhà.Mảnh vụn gỗ và gạch văng tứ tung. Khi tụi tôi ngừng bắn thì chắc là tụi nó chẳng mống nào còn sống sót, nhưng để cho chắc ăn tôi thảy vô thêm một trái lựu đạn nữa.

Sau hai mươi phút căng thẳng nhứt đời tôi, đường phố im lặng trở lại, ngoại trừ hai tai tôi còn lùng bùng và mấy thằng lính của tôi hoặc xanh mặt, hoặc chửi thề hoặc diễn lại trận đụng độ vừa rồi. Tôi nắm tay Tony, và khi nghĩ là êm xuôi rồi thì tụi tôi rút lui theo đường vô hồi nãy. Xong tụi tôi đi lại ga xe lửa, chỗ đã được phe ta chiếm đóng an toàn, cả đám mới quỵ xuống. Đêm đó tụi tôi nhận được đống thơ từ hậu phương đầu tiên trong sáu tuần.

Có sáu lá thư của ba tôi. Nhưng từ Savannah thì chỉ có một lá vỏn vẹn, và trong ánh đèn mờ tôi lui cui đọc.

Anh thân yêu

Em viết lá thư này, ngồi ở bàn phòng ăn, và bối rối không biết viết ra sao về những điều em muốn nói với anh. Một phần trong em ước ao là có anh ở đây để em có thể nói thẳng với anh, nhưng cả anh lẫn em đều biết rằng đó là điều không tưởng. Cho nên em ngồi đây, nước mắt ròng ròng, rán tìm lời, hi vọng là anh sẽ tha thứ cho em phần nào về những điều em sắp nói với anh.

Em biết thời gian này là lúc kinh hoàng cho anh. Em rán không nghĩ tới cuộc chiến, nhưng không làm sao tránh được những hình ảnh, và em luôn luôn lo sợ. Em theo dõi tin tức trên TV và báo chí, biết rằng anh đang lao mình trong cuộc chiến, em rán tìm coi thử anh đang ở đâu, đang làm gì. Hằng đêm em cầu nguyện cho anh được bình an nơi lửa đạn. Anh và em chia xẻ với nhau nhiều điều đẹp đẽ, và em muốn là anh đừng bao giờ quên điều này. Xin anh cũng đừng nghĩ là em không thương anh bằng anh thương em. Đàn ông như anh rất là hiếm có, anh ạ. Em yêu anh, nhưng hơn nữa, nhờ gặp anh mà em biết một tình yêu chận thật là ra sao. Hai năm rưỡi qua, hàng tháng mỗi đêm trăng rằm em nhìn trân trân vào mặt trăng mà nhớ lại những hết mọi kỷ niệm đẹp đẽ hai đứa mình có với nhau. Em nhớ lại đêm đầu tiên gặp anh, nói chuyện với anh mà thấy như thân quen từ thuở nào, và đêm hai đứa mình ân ái lần đầu tiên. Em sẽ luôn luôn trân quí đêm ấy của hai đứa. Đối với em vậy là như linh hồn của anh và em ràng buộc với nhau mãi mãi.

Còn nhiều chuyện nữa. Như khi em nhắm mắt lại, em thấy khuôn mặt anh hiện ra; khi em đi dạo một mình, lúc nào cũng cảm thấy như có anh nắm tay em đi bên cạnh. Những điều này vẫn còn rất thực trong em, nhưng hồi trước nó vỗ về an ủi em, còn bây giờ làm em đau khổ. Em hiểu là tại sao anh chọn tiếp tục đời lính. Em vẫn còn thông cảm với anh, tuy nhiên cả anh và em đều tự hiểu là tình cảm giữa hai đứa không còn được như trước nữa. Có lẽ hai đứa mình xa nhau lâu quá, có lẽ hai đứa mình sống trong hai thế giới khác nhau. Em cũng không biết nữa. Mỗi lần hai đứa cãi nhau xong là em thấy tự ghét mình thậm tệ. Hình như, mặc dù hai đứa mình vẫn còn yêu nhau, nhưng những nhiệm mầu liên kết giữa hai đứa không còn nữa.

Em biết là nói ra thì giống như là viện kế, nhưng xin anh tin em khi em nói là em đâu tính yêu ai nữa ngoài anh ra. Chính em còn không biết tại sao mọi chuyện lại xảy ra như vậy thì làm sao mà mong anh hiểu em cho được. Nhưng vì cái tình cảm giữa hai đứa mình nên em không muốn tiếp tục dấu anh nữa. Tiếp tục dấu anh sẽ làm mất đi tất cả những gì đẹp đẽ có được giữa hai đứa mình, em không muốn vậy, mặc dù em biết là anh sẽ cảm thấy bị phản bội. Em hiểu và chấp nhận nếu từ rày về sau anh không muốn gặp mặt em nữa, cũng như là anh sẽ phỉ nhổ em. Một phần trong em cũng cảm thấy tự phỉ nhổ chính mình. Viết lá thư này cho anh làm em tự thấy điều này, và khi soi gương, em biết là em đang nhìn một người con gái mà tự cổ không chắc là mình có xứng đáng được anh yêu.

Mặc dù có thể anh không muốn biết tới làm chi, nhưng em muốn nói với anh là anh sẽ luôn luôn là một phần trong em. Thời gian hai đứa mình bên nhau, anh chiếm một góc đặc biệt trong trái tim em, một góc rất riêng biệt và mãi mãi sẽ không ai thay thế được. Anh là một anh hùng và là một người đàn ông lý tưởng, anh tốt bụng và chân thật, nhưng hơn hết thảy, anh là người đàn ông đầu tiên trong đời em thực sự yêu thương. Và dù tương lai có ra sao đi nữa, em biết là nhờ ở tình ta mà cuộc đời em sẽ được tốt đẹp hơn.

Xin muôn vạn lần tha thứ cho em
Savannah

 
Nguyễn Sĩ Hạnh phỏng dịch

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Bình Luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Scroll Up