(đọc bài [1] tại đây)

Từ trái sang phải: Lữ Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc [1938 – 29.3.1975, mất tích tại bờ biển Đà Nẵng], Lữ Đoàn 369, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa & Phóng viên Đặng Văn Phước, Hãng Thông Tấn xã AP (9)
Trong “Phần 1. Ta về với Đặng Tiến”, tôi đã phản đối khi Đặng Tiến phát biểuTô Thùy Yên […] không phải là nhà thơ hải ngoại hay của Miền Nam cũ…” Tôi phản đối vì 2 lý do. Thứ nhất,  không ai nên mang nhân sự hay thành công của Miền Nam đi triều cống… Bắc triều, ra cái điều “bảo hoàng hơn vua”. Thứ hai, hoàn toàn không phải vì tôi tha thiết gì tới riêng Tô Thùy Yên [tôi không hề nghiên cứu về thơ ông], nhưng đã đến lúc cần nhìn lại Thơ Miền Nam trong bối cảnh Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 một cách công bằng không chỉ cho thi sĩ, mà còn cho người lính thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Họ chính là những người đã bỏ tính mạng hay góp sức để Thơ Miền Nam sinh trưởng và sống sót.

Kế đó, tôi đã sơ lược vài hoạt động trong cuộc đời binh nghiệp qua “Phần 2. Tô Thùy Yên trước 1975: Thiếu tá Đinh Thành Tiên, Trưởng Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm lý chiến, K.B.C. 3168, Tổng Cục Chiến tranh Chính trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Tôi đã hứa sẽ cung cấp ảnh của Thiếu tá Đinh Thành Tiên và ảnh của một sĩ quan tác chiến, vì tôi tin rằng Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 là bối cảnh của một quá khứ đã chi phối sáng tác của ông.       

Mở  đầu bài này, như quý độc giả đã thấy, là ảnh của Trung Tá Thủy quân Lục chiến (Robert Lửa) Nguyễn Xuân Phúc. Ông tốt nghiệp Khóa 16-Ấp Chiến lược, thụ huấn từ ngày 23.11.1959 đến 22.12.1962. Tôi chọn Nguyễn Xuân Phúc vì, thứ nhất, ông cùng thế hệ với Tô Thùy Yên (cả hai đều sinh năm 1938); và, thứ hai, theo tiểu sử đã công bố cũng như căn cứ trên các bài viết của bạn hữu hay đàn em, ông là một người lính chuyên nghiệp, chọn ra chiến trường để bảo vệ Miền Nam-Tự do trước sự tiến chiếm của Đảng Cộng sản-Miền Bắc. Ông là Lữ đoàn trưởng cuối cùng của Lữ đoàn 369 gồm Tiểu đoàn 3 Sói Biển, Tiểu đoàn 6 Thần Ưng và tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ. Khi tôi viết những dòng này, vẫn chưa ai có thể nói cho tôi biết ông đã chết như thế nào một cách chính xác, chỉ biết ông biệt tích trên bờ biển Đà Nẳng cùng với người Lữ đoàn phó và vô số binh lính khác vào cuối tháng 3 năm 1975.

Có điều chắc chắn: Ông đã chết. Không một nấm mồ. Như một số quân nhân Việt Nam Cộng hòa. Riêng tôi, tôi tin rằng nếu xác thân ông đã tan biến vĩnh viễn không dấu vết tựa một vì sao băng-thác là thể phách; ít nhất tôi hy vọng sẽ góp phần dựng được một mộ bia-còn là tinh anh cho ông và người lính Miền Nam. Mộ bia này không thể dựng trên những lời phù phiếm nhân danh chính nghĩa mà thật ra chỉ che đậy bằng tham vọng hay tình cảm cá nhân. Tôi vốn rất gờm loại “vinh danh” anh tài bằng cách vinh danh anh-em-mình. Mộ bia này, bởi thế, phải được dựng bằng tài liệu hầu chứng minh văn sử Miền Nam và/hay Thơ Miền Nam  đã không dừng lại ở sự “giải thoát” mà còn ở một vị trí cao hơn: Sự thật của một Miền Nam tự do và can trường trước 1975,  rồi mất tự do nhưng không bao giờ mất can trường sau 1975. Chúng ta-Miền Nam không có lý do gì để  phải “giải thoát” khỏi quá khứ can  trường ấy cả.

Do đó, tôi sẽ tiếp tục trình bày các phần kế tiếp có liên quan đến nhà thơ Tô Thùy Yên dựa trên, không những bối cảnh chiến tranh, mà còn một Miền Nam đã mất tự do và Cộng đồng Việt tỵ nạn Cộng sản tại Hải ngoại sau 1975.

 3. VĂN NGHỆ SĨ MIỀN NAM SAU 1975

Bộ mặt thịnh vượng của Miền Nam ngày nay đã được tái tạo trên sức mạnh phi thường tuy bao dung nhưng đầy kiêu hãnh của người dân Miền Nam. Họ đã quên oán thù cá nhân khi vươn lên lập lại cuộc đời, nhất là tại Sài gòn, nhưng chưa bao giờ quên nguồn gốc gây ra điêu linh cho họ. Bởi thế, giới nhà văn nhà thơ cũ Miền Nam còn ở lại hay đã di tản, nhất là giới ka-ki, vẫn tiếp tục sáng tác và tranh đấu trong hoàn cảnh mỗi người. Vài thí dụ điển hình sau đây sẽ cho chúng ta thấy một phần thế giới đó. Tôi sẽ trình bày 3 thí dụ, trong đó có Văn Quang và Hà Thượng Nhân (2 quân nhân) và Tú Kếu, một nhà thơ dân sự.

3.1    Trung Tá Văn Quang

Nhà văn Văn Quang Nguyễn Quang Tuyến sinh năm 1933 tại Thái Bình. Ông đã nói về chính ông như sau vào năm 1969:

1952-1953, Dậy học tại Hải Phòng. Tháng 9-1953, Động viên vào khóa 4 trường Sĩ -Quan Trừ-bị Thủ Đức. Tính đến ngày 31-12-1969 được 16 năm Sĩ -quan trừ-bị. Hiện là Thiếu-tá. Sẽ xin giải ngũ khi đất nước hết chiến tranh.”

40 năm sau, năm 2010, ông trao cho tôi một tiểu sử chi tiết hơn khi Khởi Hành sửa soạn trao giải cho ông. Năm 1953, nhà văn Văn Quang gia nhập Quân Đội Quốc Gia, phục vụ trong nhiều đơn vị trước hiệp định Geneve năm 1954. Từ năm 1957, ông chuyển sang ngành Tâm Lý Chiến với nhiệm vụ Trưởng Phòng Báo Chí Quân đội thuộc Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH kiêm Trưởng Ban Biên Tập của các tờ báo thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa thời đó. Từ năm 1969 cho đến 30.4.1075, ông giữ trách nhiệm Quản Đốc đài Phát Thanh Quân Đội, cấp bậc Trung Tá. Tác phẩm đầu tay của Văn Quang là Tiếng Tơ Lòng được đăng trên nhật báo Thân Dân, Hà Nội cuối năm 1953. Tác phẩm thứ nhì của ông là tập truyện ngắn Thùy Dương Trang do Lạc Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1957. Từ đó cho đến 30.4.1975, Văn Quang cộng tác thường xuyên với nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí tại Sài Gòn như Ngôn Luận, Chính Luận, Tiếng Chuông, Tin Sớm, Tiếng Vang, Kịch Ảnh, Truyện Phim, Điện Ảnh, Văn Nghệ, Tiền Phong, Bách Khoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Tuần San... Ông là một trong số ít nhà văn viết được nhiều thể loại từ truyện dài, truyện ngắn cho tới phóng sự. Trong khoảng thời gian này, ông hoàn thành hơn 50 tác phẩm in trên các báo và đã có 28 tác phẩm được xuất bản. Các tác phẩm của ông hầu hết là truyện dài, và đã có 4 tác phẩm được chuyển thành phim từ 1962 đến 1972, gồm Ngàn Năm Mây Bay, Chân Trời Tím, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Hát Học Trò.

Ông bị chính phủ Cộng sản bắt vào tháng 6.1975 và được thả sau 12 năm. Ra tù, khoảng 1989-1990, ông lập tức theo học về máy vi tính.  Sau đó, ông đánh vi tính thuê và làm lay-out cho các tiệm sách báo. Ông từ chối ra đi theo diện H.O., chọn ở lại hành nghề trong khi tiếp tục viết văn và phóng sự. Tháng 6.2009, công an vào nhà Văn Quang lục soát, tịch thu tiền bạc và máy móc vì ông gửi loạt Lẩm cẩm thiên hạ sự ra ngoại quốc. Hồi bị bắt rồi được thả, ông kể cho tôi nghe đám công an yêu cầu ông phải trấn an anh em độc giả ngoài nước là được đối xử đàng hoàng dù bị khủng bố tinh thần. Cuối cùng họ bắt ông ngưng gửi bài ra nước ngoài. Ông trả lời: “‘Tôi chỉ đá một chân, không thể viết báo trong nước được. Viết kiểu của tôi chẳng báo nào trong nước dám đăng đâu. Xin miễn’. Cho đến bây giờ cứ thấy tên tôi trong bất kỳ bài nào của ai, báo VN cũng gạch bỏ liền. Quả thật điều này không làm tôi phật ý mà ngược lại tôi còn khoái vì sao họ sợ mình đến thế? ” [Văn Quang, Ngày tháng chưa quên, 5. 2017]

Văn Quang còn công khai mang tiền trao giúp thương phế binh Việt Nam Cộng hòa trên bốn vùng chiến thuật. Ông bầy tỏ:

Tôi phải sống như người lính chưa bao giờ bỏ ngũ, chưa bao giờ đào ngũ, làm tiếp nhiệm vụ của mình. Ý chí ấy bén rễ trong tôi từ ngày vào quân đội với tâm niệm ‘quân đội, danh dự, trách nhiệm’. Tôi tin rằng các bạn của tôi dù ở bất cứ đâu cũng còn mang chung tâm niệm ấy cho đến cuối cuộc đời. Ở đây còn nhiều hình ảnh đau thương của những anh em Thương Phế Binh VNCH sống vất vưởng lang thang ngoài vỉa hè xó chợ. Tôi đã từng gặp những người bạn đồng đội ấy, chia sẻ với họ và kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ. Lại cũng chính vì công việc này tôi bị C(ông) A(n) cấm viết về Thương Phế Binh VNCH. Tôi đã từng bị khủng bố tinh thần, bị xuyên tạc dọa dẫm bằng đủ thứ…” [Văn Quang, sđd]

Sau khi bị tịch thu máy móc và tiền bạc, ông trở lại đúng 1 năm sau với loạt bài cũ, chỉ đổi tên khác. Năm 2000, ông viết và cho phép phổ biến bài “Người con gái 27 năm với đời sống thực vật” về tình cảnh cô con gái tàn tật của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ và Tô Thùy Yên. Sau 1975, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ làm đủ nghề, kể cả nghề lơ xe hay nuôi dê để nuôi các con. Ngoài 3 lần phần thư của người Cộng sản, bà đã tự tay tiêu hủy hết bản thảo, kể cả bản thảo các truyện ngắn. Một người hết sức thận trọng như Văn Quang dư hiểu đây là một tình cảnh hết sức tế nhị, nhưng bổn phận với lương tâm khiến ông không thể tự từ chối. Đó là một thí dụ nữa về tinh thần trách nhiệm của người cầm bút Văn Quang. Nhờ ông, tôi có cơ hội phỏng vấn nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Hình như tôi, Nguyễn Tà Cúc, là người duy nhất phỏng vấn cả Tô Thùy Yên lẫn Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Tháng 7, năm 2010, độc giả Khởi Hành trao giải “Văn chương toàn Sự Nghiệp Kỳ III” cho ông, căn cứ trên hoạt động văn nghệ  không ngừng và sự can trường của một nhà văn kiêm người lính. Tôi đã viết bài “Nhân lễ trao giải cho nhà văn Văn Quang, nghĩ đến vai trò người phê bình trong nước” có đoạn mở đầu như sau:

“Trước hết, tôi xin cảm ơn các anh lính cũ có mặt ngày hôm nay đã nhận lời mời của Khởi Hành và của tôi đến dự buổi trao giải cho nhà văn Văn Quang. Chưa bao giờ kêu gọi hay nài nỉ ai tham dự những sinh hoạt của Khởi Hành, nhưng lần này tôi phá lệ ấy vì nghĩ rằng, khác với lần trao giải cho nhà văn Nguyễn Thụy Long hay nhà thơ Hữu Loan, lần trao giải này cho một nhà văn của Quân đội Miền Nam, nghĩa là cũng qua đó, vinh danh Quân Đội Miền Nam đã bảo vệ Miền Nam trong suốt 20 năm để chúng ta xây dựng được Văn học Miền Nam...” [Nguyễn Tà Cúc, bđd, Khởi Hành Số 169, trang 13, tháng 11.2010]

Tôi đã không nhầm: Ông nhắc lại lần nữa lời thề “Tồ Quốc-Danh dự-Trách nhiệm” khi trở thành người lính thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng hòa và đồng đội trong lá thư từ giã độc giả từ Sài gòn:

Thư từ giã bạn đọc,

Đây là bài sau cùng tôi viết hàng tuần cho các báo ở nước ngoài. Tôi sẽ ngưng viết loạt bài này vì lý do sức khỏe, không vì bất cứ lý do nào khác. Hơn 60 năm cầm bút, tôi không có gì đáng tự hào bởi chỉ như người lính trên đường trường hành quân không biết mình đã bắn được bao nhiêu viên đạn. Tất cả chỉ vì ba lời thề “TỔ QUỐC – DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM” mà tôi đã thề trước khi trở thành người lính của Quân Đội VNCH. Tôi còn thua cả những đồng đội của tôi đã vĩnh viễn ra đi hoặc bỏ lại một phần thân thể mình trên chiến trường, trở về với cuộc sống vất vưởng nơi quê nhà. Trong lá thư ngắn hôm nay, trước khi ngừng viết, tôi xin gửi lời cảm tạ đến tất cả bạn bè, các bạn đọc của các báo và các khán thính giả và các cơ quan truyền thông, các đài phát thanh truyền hình đã từng có thời gian dành cho tôi những tình cảm đặc biệt. Bây giờ đầu óc tôi không còn được minh mẫn nữa, khi nhớ khi quên… đã đến lúc phải biết mình nên dừng lại ở đâu. Tôi chắc chắn trong những bài viết của tôi có nhiều khiếm khuyết, mong được sự bao dung thông cảm của các bạn.-   Văn Quang,  Sài Gòn, ngày 21 tháng 6, 2017″

Với Văn Quang, tuy không dám nhận  là “thân” nhưng, ngay từ đầu, tôi biết có thể giữ được một thứ liên hệ “tương kính như tân”. Ông giữ lối Bắc kỳ cổ điển khi xưng  hô “chị-tôi”. Có một chuyện bên lề nhưng tôi nghĩ vẫn cần viết ra: Cũng như các ông Bắc kỳ cổ điển khác (Mặc Đỗ hay Cao Tiêu, Phan Lạc Phúc vv), Văn Quang để ý đến chữ viết. Ông có chữ viết quá đẹp dù đã tới từng tuổi đó, không phá cách mà đều tăm tắp. Các chữ viết hoa và các dấu “sắc hỏi huyền ngã nặng không” thì thật bay bướm khiến bộc lộ một cách tình cờ nết nghệ sĩ. Bây giờ nói đến chuyện chữ viết tay thì nghe có vẻ hoang đường, nhưng một ông cổ điển Huế–họa sĩ Võ Đình–từng đủ cảm hứng để viết một bài rất nghiêm chỉnh  đầy nhận xét về chữ viết của quý bạn trong làng văn nghệ hải ngoại.

Tôi không biết là có bao nhiêu chị em cỡ tuổi tôi hay lớn hơn một chút, nhớ rằng thời đó chúng ta (học sinh Trung học) có một lúc hàng năm vẫn viết thư và thêu khăn tặng các anh chiến sĩ không? Thư và khăn đều tuyệt đối không được kèm tên mà chỉ có tên trường (trên thư) và chữ tắt của trường (trên khăn). Bọn tôi đứa nào cũng cố “gò” cho chữ đẹp cả. Sau này, nếu tôi nhớ không lầm–vì tôi hay bệnh và nghỉ học nhiều– thì ít viết thư hơn nhưng khăn thêu thì vẫn có.

Nói chung, thời đó, chữ viết tay rất được chú ý. Thế nên, tôi cũng để ý đến chữ viết như các ông Bắc kỳ cổ điển này. Chữ viết của tôi không hề “múa”, nhất là các chữ hoa. Đó là vì ông thân sinh khai tâm tôi bằng mươi chữ Hán trước khi dậy chữ Việt, cốt để “ngang bằng sổ ngay”. Có một điều ông thân sinh cấm mà tôi đã không tuân theo: Tôi hay viết thư tay–trừ thư tình, cái này thì tôi giữ được một phần lời cấm– những bức thư tràng giang đại hải. Các ông cũng trả lời bằng những bức thư tràng giang đại hải không kém. May mà bây giờ có máy xén/shredder rất nhậm lẹ. Sau khi đọc xong, tôi cho vào máy xén hết. Khác với Võ Đình, tôi chẳng giữ làm gì, không phải không biết quý nhưng biết sống chết dở dang thế nào mà giữ, dù rằng cũng chẳng có gì động trời trong những bức thư đó. Sau này, Nguyễn Xuân Hoàng biết chuyện, vẫn gọi đùa tôi là “nhà nho (hồng) thập tự” và “đại lý hãng máy… chém”. Sau này, tôi nhận ra một sự tình cờ, rằng các ông Tâm lý chiến mà tôi được hân hạnh biết hay quen, ông nào cũng viết chữ đẹp số dzách. Từ Trung tướng Trần Văn Trung, đại tá Cao Tiêu cho tới trung tá Văn Quang, thiếu tá Hà Huyền Chi hay thiếu tá Đinh Thành Tiên đều viết chữ đẹp ác liệt. A! Vang bóng một thời! Những người và những chữ. Văn hay chữ tốt.

Năm 1970, Văn Quang trả lời phỏng vấn của tạp chí Khởi Hành :

“[…] Tôi không biết phải kể tác phẩn đầu tay của mình bắt đầu từ bao giờ. Từ khi còn là cậu học trò làm một bài luận văn tả tình tả cảnh về một đêm mưa với kẻ xa nhà, hay phải hỏi đến một bài thơ, một truyện ngắn đầu tiên của mình đăng trên báo hay rõ rệt và gần gũi hơn là tập truyện xuất bản đầu tiên. Với tôi, tất cả những thứ đó đều có giá trị ngang nhau tuy chúng riêng biệt. Bởi đó là những nâng niu, ghi nhớ, đằm  thắm mãi trong lòng mình. […]

Đã từ lâu lắm, tôi không dịp xem lại một tác phẩm nào xưa cũ của tôi. Cái truyện dài đăng trên báo Liên Hiệp ở Hà Nội giữa năm 1953 và cũng là năm tôi được lệnh động viên vào Thủ Đức mang cái tên lẳng lơ đầy ngây thơ là Tiếng Tơ Lòng thì thất lạc ngay từ hồi di cư. Còn tập truyện ngắn Thùy Dương Trang do nhóm anh em Lạc Việt xuất bản năm 1957 đến bây giờ cũng không hề có cuốn nào. Đây cũng là một biến chuyển nữa. Hồi ấy tôi làm Trưởng Phòng Báo chí Quân Đội của Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng (do Tướng Trần Văn Trung làm Giám đốc ) chủ trương hai tờ báo Phụng Sự với Huy Sơn và Quân Đội với T.K.N. Nhưng khi Tướng Trung đi Pháp thì sau đó xảy ra một vài câu chuyện bất đồng ý kiến với những người mới đến nên tôi được đưa đi Pleiku với mục đích để Tướng Trí hành hạ. Song rất may Tướng Trí lại ‘chịu chơi và chịu làm’ nên tôi rất ‘thơ thới hân hoan’ phục vụ dưới quyền “ổng”. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thích thú về thời gian làm việc đó,

Sở dĩ tôi phải kể dài dòng như thế vì chính trong khoảng thời gian này tập truyện Thùy Dương Trang được xuất bản đầu tay. Tôi cho rằng vì những ẩn ức đen bạc rồi những yêu thương tìm lại, cuốn truyện đã hình thành. Như tôi đã trình bày, hai cuốn truyện đầu tay (một đăng báo, một xuất bản) đã được khai sinh trong những biến chuyển ghi nhớ trong cuộc đời. Dĩ nhiên giữa hoàn cảnh và các phần đã có sự liên hệ mật thiết. Song chẳng bao giờ tôi đi tìm cho chúng một kết luận nào. Nghĩ đến tác phẩm đầu tay, tôi thường sống lại trung thực và trọn vẹn với một thời gian xưa cũ đầy kỷ niệm riêng tư. Trong đó có cả những chuyện tình ái êm đềm nhất. Nhưng rồi sau đó là những mất mát ngẩn ngơ. Cuộc đời tôi vì thể trở nên càng rắc rối y như những cuốn sách mà tôi đã viết đem tập trung lại và đọc từ cuốn nọ sang cuốn kia. Cuộc đời chẳng còn hình thù gì. Tất cả đều đã mất như xung quanh tôi không hề tìm thấy cuốn sách nào của tôi.” [Văn Quang, Trả lời phỏng vấn của Viên Linh, “Bốn nhà văn và Tác phẩm đầu tay”, Khởi Hành số 69, trang 2, Thứ năm ngày 3.9.1970, Chủ nhiệm-Chủ bút Anh Việt Trần Văn Trọng & Thư ký Tòa soạn Viên Linh]

Nói chuyện với ‘tài tử’ Hà Huyền Chi”, Khởi Hành phỏng vấn nhà thơ Hà Huyền Chi, số 77, Thứ năm ngày 29.10.1970, trang 13

Chưa đầy 5 năm sau, Văn Quang bị chính quyền Cộng sản bắt giam. Tác phẩm bị hủy và bị cấm lưu hành. Từ Hoa Kỳ, Hà Huyển Chi nghe tin sai lạc, làm thơ khóc bạn trên Thời Tập của Viên Linh những năm cuối 1970. Nhà thơ (thiếu tá Nhẩy dù/Tâm lý chiến) Hà Huyền Chi từng thủ vai “thiếu úy”, một nhân vật trong phim Chân trời tím, từ một truyện dài cùng tên của nhà văn (trung tá Tâm lý chiến) Văn Quang:

Tiện dịp, tôi muốn đưa thêm về vài hoạt động văn nghệ của các nhà thơ nhà văn thuộc Cục Tâm lý chiến Việt Nam Cộng hòa như thí dụ trên để độc giả, nhất là độc giả trẻ tuổi hơn, có thể hình dung phần nào sinh hoạt của văn nghệ sĩ Miền Nam. Hầu như tất cả văn nghệ sĩ này đều là sĩ quan Tâm lý chiến như đại úy Dzư Văn Tâm (Thanh Tâm Tuyền) tòng sự tại  nhật báo Tiền Tuyến và giữ mục “Văn học Nghệ thuật“. Khi chủ bút Lô -Răng Phan Lạc Phúc đi công vụ, ông giao cho Thanh Tâm Tuyền giữ mục “Tạp Ghi”.  Sinh hoạt của họ, dù là lính, vẫn hầu như hoàn toàn tự do, như thí dụ đóng phim của Hà Huyền Chi mà không cần phải thông qua các chính ủy, tuyên huấn nào. Chỉ cần thông qua tác giả và đạo diễn là đủ.

Sau 1975, tại Miền Nam, tưởng tiểu thuyết, phóng sự, phim vv đều đã mất chứ không phải chỉ có Tiếng tơ lòng Thùy Dương Trang như Văn Quang đã đề cập đến trong bài phỏng vấn. Nhưng trái lại, sau chỉ khoảng 15 năm, sự thật không thể che đậy được nữa. Miền Nam chứng minh sức sống không thể bị tiêu diệt. Sài gòn và các cuốn sách cũ của ông được sưu tập tìm kiếm. Hơn thế nữa, bất chấp mọi đe dọa, một loạt tác phẩm mới của Văn Quang xuất hiện ngoài Việt Nam, trên khắp thế giới dưới “ba lời thề ‘TỔ QUỐC – DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM’”, hệt như ngày đầu ông động viên vào Thủ Đức.

3.2    Trung tá Hà Thượng Nhân [Hoàng Sĩ Trinh & Phạm Xuân Ninh, 1922-2011], chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Hà Thượng Nhân là một trong những sĩ quan quan trọng đầu tiên của Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Nhiệm vụ sau cùng của ông là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, Tổng Cục Chiến tranh Chính trị. Ông nổi tiếng về tài thơ trước 1975, cả về thơ thời sự. Ông giữ mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung” trên nhật báo Tự Do-thời Phạm Việt Tuyền. Một đoạn dưới đây của họa sĩ Tạ Tỵ cho biết về phần đời của Hà Thượng Nhân trước và ngay sau khi ông vào Nam:

“[…] Còn một người nữa cũng được đồng hóa với cấp bậc Đại Úy, đó là Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân, người thay Đinh Hùng làm thơ tếu trong Mục ĐÀN NGANG CUNG của Báo TỰ DO, lúc này chỉ còn một mình Phạm Việt Tuyền nắm giữ vận mệnh tờ báo. Phạm Xuân Ninh trong thời gian kháng chiến ở Khu Tư tức Thanh Hóa, trong tổ chức của Đặng thai Mai, người dịch LÔI VŨ của Tào Ngu, mang tên Hoàng Trinh. Trong thời gian ở miền Nam ít ai biết đến tên Hoàng Trinh, ngoài tập thơ in bằng Ronéo để tặng anh em, trong đó có nhiều bài thơ rất hay. Lâu ngày, tôi chỉ nhớ lõm bõm vài câu Đêm trăng ruỗi ngựa trên thành/ Chiều thu thét gió bên ghềnh Lạng Sơn… Không phải Hà Thượng Nhân chỉ làm thơ vui, chính thực, anh làm thơ rất hay, nhất là thơ theo thể “Hành”. Hà Thượng Nhân vóc người tầm thước, rất khôn ngoan trong cách đối xử. Đôi kính trắng và mấy chiếc răng bọc vàng làm khuôn mặt anh thêm duyên dáng. Anh không làm ai mất lòng bao giờ, nhưng cũng vì thế trở thành ba phải. Anh rất thích đánh chắn chứ không chơi xì phé như ký giả Lô-Răng. Sau một thời gian làm việc ở Bộ Quốc Phòng, Phạm Xuân Ninh được thuyên chuyển về Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Do thời cuộc, có một thời gian anh làm Giám Đốc Đài Phát Thanh Sàigòn. Vì nhu cầu chiến tranh, Nha Chiến Tranh Tâm Lý được mở rộng thành Tổng Cục Chiến tranh Chính Trị. Dưới nó có Cục Tâm Lý Chiến, Cục Xã Hội, Cục An Ninh, Cục Chính Huấn và các Nha Tuyên Ủy Phật giáo, Công giáo và Tin Lành v.v.” [Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi-Hồi ký, trang 253, Nhà xuất bản Thằng Mõ, Tháng 9.1990, Hoa Kỳ]

Tôi được hân hạnh gặp ông tại San Jose trong một buổi ra mắt sách. Ngồi cạnh nhau trong một bữa họp mặt sau đó, ông thuật lại rằng, anh em Tâm lý chiến đều đi tù và đi tù nặng. Biết tôi quan tâm tới phụ nữ, ông cũng xác nhận một trong những người cầm bút phụ nữ đi tù lâu nhất là dịch giả Trí Hải. Tôi hỏi ông về tình trạng báo chí thời 1954-1975, về những người “nằm vùng” ngay được trong những tổ chức của Việt Nam Cộng hòa. Thí dụ tạp chí Trình Bầy do Thế Nguyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút, chủ trương.

Hà Thượng Nhân trả lời,  không cần suy nghĩ:

-“Đó là cái giá chúng mình phải trả để đối lấy tự do, từ trước khi Bức Màn Tre dựng lên ở vĩ tuyến thứ 17. Cục Tâm lý chiến biết hết cả đấy nhưng chúng mình phải cho thấy chúng mình có tự do, vũ khí chống lại Cộng sản. Một đằng đang phải đối phó với một địch thủ già kinh nghiệm với guồng máy đã chuyển động thuần thục từ trước 1954; ai trong guồng máy ấy cũng chỉ như một con ốc tý hon, rất dễ bị thay thế hay nghiền nát. Một đằng Miền Nam không biết hiểm họa Cộng sản nó như thế nào. Người Nam có nhiều người vẫn bảo chúng mình di cư bịa chuyện cải cách ruộng đất, đấu tố chứ làm gì tàn ác đến thế. Chúng mình thì chúng mình coi trọng nhân phẩm và nghệ thuật. Anh Tô Thùy Yên anh ấy có ví là, là quân nhân 2 miền như, như cái gì nhỉ? À, như những cánh quạt máy bay (10). Tôi có cười và bảo anh ấy: ‘Các anh binh sĩ Cộng sản được như cánh quạt máy bay đã phúc. Chỉ như con ốc con con thôi.’ Không biết Tà Cúc còn nhớ không? Tôi còn chứng kiến nhiều cái khó khăn lắm.

-“Anh ơi, không ạ, lúc ấy Tà Cúc chẳng đọc ai cả, còn đi đá banh mà! Đi đá banh với bọn con trai, chúng nó cứ nhè chân mình mà đá, làm mình phải tung đất cát vào mắt nó cho nó tởn.

“À à, tôi quên, chắng mấy chốc mà đã già mất rồi. Đúng là tứ bề thọ địch. Làm gì mà chúng tôi không biết hoạt động của họ. Có người đã bị bắt nhưng rồi chính phủ phải thả ra vì áp lực của chính anh em mình. Nhưng mà khi ai hỏi tôi, tôi có ân hận không, thì tôi trả lời, Có gì đâu mà ân hận? Mình đã cố hết sức rồi thời thế đưa mình vào tù. Rồi mình ra tù mà vẫn ngẩng mặt lên được rồi gặp lại được anh em…”

Tôi cũng hỏi về nhận xét “tính ba phải” của Tạ Tỵ. Tôi còn nhớ ông bật cười rất lớn nhưng hạ giọng ngay: “Tâm lý chiến chứ không ‘ba phải’ đâu. Tà Cúc tưởng tượng một hội quần anh đông như thế, cả họa sĩ khó tính Tạ Tỵ nữa, thì tôi phải cẩn thận chứ. Toàn người có tiếng cả. Chỗ chính của họ là Văn, Bách Khoa, Khởi Hành… Tà Cúc không tin cứ tìm đọc Ba-Tê Thanh Tâm Tuyền viết thế nào về các bà rồi sẽ biết. May mà các bà không đọc Tiền Tuyến! ”

Nhờ sự …báo động của ông, tôi may mắn tìm được cuốn Tạp Ghi, gồm những bài Thanh Tâm Tuyền viết thay chủ bút Lô Răng Phan Lạc Phúc khi ông đi công du hay bận rộn. Và được đọc cảm tưởng của “Ký giả Ba-Tê” về các nhà văn nữ lúc đó. Tôi sẽ đề cập đến đề tài này sau.

Sau 8 năm tù, Hà Thượng Nhân sang Hoa Kỳ, nhưng vẫn sáng tác và hoạt động văn nghệ với tâm nguyện như cũ. Ông xướng họa với người quen xưa như Mặc Đỗ hay “Trùm mật vụ” Trần Kim Tuyến và tiếp tục gửi thơ “ngang cung” về Khởi Hành. Ông làm một bài thơ dài cho người bạn cùng tù Trung tá Bộ binh Nguyễn Phú Thọ, em ruột Trung tá Thủy quân Lục chiến Nguyễn Xuân Phúc, có mấy câu  sau đây:

Một số Sĩ quan Hiện dịch Khóa 16, Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam, Quảng Trị, Tháng chạp. 1972 Hàng đứng, từ trái sang phải: Trung tá Mũ Xanh (Thủy quân Lục chiến) Trần Văn Hiển, Trung tá Mũ Đỏ (Nhẩy Dù) Bùi Quyền, Trung tá Mũ Xanh Nguyễn Văn Cảnh, Trung tá Mũ Xanh Nguyễn Đằng Tống & Nghị Viên N.Đ. Thục-áo trắng Hàng ngồi, từ trái sang phải: Trung tá Sư Đoàn 1 Bộ Binh Nguyễn Phú Thọ, Trung tá Mũ Xanh Nguyễn Xuân Phúc, Trung tá Mũ Đỏ Lê Minh Ngọc và Chi Khu Trưởng Thiếu tá TTChung(11) [ theo http://www.vobivietnam.org/ ]
[…] Nguyễn Phú Thọ! những ngày cơ cực cũ
Ta gặp nhau và ta bỗng thân nhau
Ta mang chung tất cả một niềm đau
Một nỗi nhục làm tên quân thất trận
Có nhiều buổi bừng bừng trong lửa giận
Ta nhìn trời hứa hẹn với lòng ta
Tám mươi hơn, Lã Vọng vẫn chưa già
Thua một trận chưa là thua vĩnh viễn
[…]Những Bà Trưng, Bà Triệu, những con người
Cất cao giọng không bao giờ chịu nhục
Ta không chịu vẩy bùn cho nước đục
Sống qua ngày như những kẻ lưu manh
Vì thế nên tôi mới lại còn anh
[…]Tôi gởi Thọ một niềm tin vằng vặc
Niềm tin tôi chẳng vì tháng năm qua
Niềm tin tôi mãi mãi vẫn không già
Đến Mông Cổ thanh danh rồi hủy hoại
Đến đế quốc Hít Le cũng đành cam thất bại
Không vì dân tất cả sẽ tan tành…

[Hà Thượng Nhân, “Mai mốt là Xuân” (12)]

Trái với nhận xét của Tạ Tỵ, tôi có cảm tưởng ông không phải là người “ba phải” mà thận trọng. Ông rất quan tâm đến sinh hoạt văn nghệ Chống Cộng. Hôm nay, thuật lại những cuộc nói chuyện với ông, tôi hân hạnh từng được biết đủ để viết phần này. Ông đã đi đến cùng các chiến hữu trong hành trình Thơ mà không đầu hàng.

3.3    Nhà thơ Tú Kếu

Theo nhà văn Nguyễn Thụy Long, nhà thơ Tú Kếu Nguyễn Huy Nhiên [Trần Đức Uyển, 1937, Sơn Tây-2002, Thủ Đức], một trong những cây bút trào phúng bậc nhất Miền Nam, không có giấy hộ thân dưới chế độ Cộng sản cho đến khi mãn đời:

“[…] Tôi có cái lo lắng của một người sống trong chế độ XHCN lâu năm, hỏi chị Phượng rằng lo được giấy tờ khai tử cho anh chưa, việc này ảnh hưởng đến lý lịch của hai cháu nhỏ tuổi còn đi học, chị nói xong cả rồi, vì tôi biết Tú Kếu sau ngày được phóng thích, không có giấy tờ gì ngoài giấy ra trại, tất nhiên không có hộ khẩu và Chứng Minh Thư nhân dân. Tôi tạm yên tâm. Nhưng khi tôi hỏi lại ông Tiêm về chuyện này, ông Tiêm nói không cần nữa vì Tú Kếu đã chết rồi, dù bao lâu nay Tú Kếu không có một mảnh giấy tờ để chứng minh là công dân của nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng khi nằm xuống Tú Kếu vẫn về với Chúa, theo lệnh người vẫy gọi, thì có quan trọng gì giấy tờ ở thế gian này…” [Nguyễn Thụy Long, Đám Tang Nhà Thơ Ở Saigon: Thương Tiếc Tú Kếu, Gửi từ trong nước cho báo chí hải ngoại và Khởi Hành, cuối tháng 4.2002]

Cũng theo nhà văn Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu bị kết án 18 năm tù vì tham dự “tố chức phản động” chống lại nhà cầm quyền Cộng sản, nghĩa là dài hơn 17 năm của nhà văn Thảo Trường. Sau 9 năm hơn, ông được thả về sau khi mắc chứng bệnh lãng quên (Alzheimer]. Ông đã nhắc đến việc tham dự “chống bạo quyền” trong một bài thơ chuyển ra ngoại quốc, tới Khởi Hành. Đây là đoạn đó:

Bọn giặc từ khi cắm được cờ
Muôn dân thống khổ đất hoang sơ
Nhân quyền bạo lực tan tành xé
Vắt máu không từ cả trẻ thơ
 
Và cũng từ khi đảo ngược đời
Anh như bèo dạt chốn xa xôi
Còn tôi trôi nổi trên rừng núi
Những muốn tai ngơ miệng ngậm lời.
 
Ấy vậy nhưng nào có được yên
Những điều trông thấy nát gan tim
Thôi thà sống chết cho ra lẽ
Cờ nghĩa theo sau chống bạo quyền
 
[Tú Kếu, Di cảo, khoảng 1992]

Tú Kếu thuộc truyền thống thơ trào phúng, nhưng điều tôi nghĩ đầu tiên đến thơ ông là “thời  sự”. Ông xuất hiện trên rất nhiều báo dưới nhiều bút hiệu, phác họa bức tranh Miền Nam từ xã hội, chính trị đến văn nghệ. Hãy nghe ông khóc nhà văn Lê Văn Trương:

Từ đấy đôi lần nhớ bác Trương,
Lòng tôi se thắt nghĩ mà thương.
Thương mình, thương bác, thương đồng nghiệp,
Muốn dứt tơ tằm sợi vấn vương.
 
Con tằm đứt ruột nhả tơ dâu,
Rút cuộc hồn đơn nặng gánh sầu.
Nhân thế lập lờ đôi mắt giấy,
Chiều tà bóng xế nghĩ càng đau.
 
 [Tú Kếu, “Nhớ một lần bác Trương”, Khởi Hành số 42, Thứ năm, ngày 26 tháng 2.1970, trang 3]

Tú Kếu, Thơ Đen, Nhà Xuất bản Tiếng Nói, Tháng 3.1965

Khi trở lại Penn State University vào năm 2007, tôi tìm được nhiều tài liệu, trong số có Thơ Đen của Tú Kếu.
 
Hình như các đại-thi-sĩ nhà ta vốn hay coi thường các nhà thơ trào phúng, châm biếm, thời sự, nhất là thơ chống chế độ độc tài hay ngoại xâm. Trong Thơ Miền Nam, nhà thơ Đinh Hùng cũng nổi tiếng qua những bài thơ châm biếm dưới bút hiệu Thần Ðăng, khi ông giữ mục “Đàn ngang cung” trên nhật báo Tự Do-thời Mặc Đỗ. Bút hiệu này lập tức đưa chúng ta về mấy câu thơ trong bài “Thần tụng“, ký tên Đinh Hùng: “Trước ngọn thần đăng,/Chập chờn gió lốc./Lạc giữa tang thương,/Hồn nào cô độc?” Sau này, Hà Thượng Nhân sẽ đảm nhận mục đó.

Tô Thùy Yên, bầy tỏ cảm nghĩ của ông qua một lần góp tiếng trong một cuộc bàn luận về Thơ:

“[…] Tuy nhiên, việc sử dụng thơ và ngôn ngữ như một vũ khí đối kháng cũng chỉ là một hành động chiến thuật tạm thời giai đoạn thôi […]Ví dụ điển hình là thơ Pháp trong thời kỳ nước Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, đống thơ gào thét nhạo báng đó ngày nay chỉ còn được nhìn như những chứng liệu lịch sử về một thời thế tối tăm, về một khí tiết, thế thôi […]Tôi thiết nghĩ thơ không lớn tiếng la lối, cười đểu mà thơ trầm lặng, thanh nhã. Thơ gợi lên cho người đọc những không gian không với tới, thơ giúp người đọc sống bên ngoài, bên trên thân phận làm người hạn hẹp của chính mình. Thơ nới rộng mọi chiều kích của cuộc sống, thơ đưa đường cho sự giải thoát. Tôi ngoan cố hình dung ý niệm tối hậu cao quý nhất của văn nghệ là giải thoát chớ không chỉ đơn thuần là giải sầu, giải muộn hoặc giải tỏa không thôi….” [Phan Nhiên Hạo tổ chức “Thảo luận bàn tròn: Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, eL., Phan Nhiên Hạo, Chân Phương, Thường Quán, Tô Thùy Yên – Về thơ Việt đương đại [hạn] (phần 1) 03.12.2011,  litviet]

Tôi không thấy ông chỉ đích danh những nhà thơ Pháp nào thuộc “đống thơ gào thét nhạo báng“, nhưng thơ chỉ có nghĩa là Thơ nếu thật là thơ. Thêm nữa, một thi sĩ chưa chắc đã đáng kính trọng hơn những người không phải thi sĩ mà vẫn dám đối đầu với nguy hiểm đến tính mạng để viết những câu “gào thét nhạo báng“. Cho nên, chắc chắn không phải ai cũng đồng ý với quan điểm của Tô Thùy Yên, rằng “ý niệm tối hậu cao quý nhất của văn nghệ là giải thoát chớ không chỉ đơn thuần là giải sầu, giải muộn hoặc giải tỏa không thôi…” Bởi thế, có lần chính Tô Thùy Yên trở thành nạn nhân của trường phái thơ Đàn Ngang cung này. Ông có vẻ khó chịu khi thấy bản mặt “chưa chắc” hay “hồ nghi” của tôi khi ca ngợi một số thi sĩ ngoại quốc và Thơ không “la lối hò hét”. Nhiều lần, ông “thách” tôi làm thơ …tặng ông để xem tài nghệ hậu sinh khả ái tới đâu. Tôi mượn ngay thơ của tiền bối Nguyễn Khuyến, ông tổ phường thơ trào phúng:

Tôi nghe chúng nó lại cùm ông
Thi sĩ phen này hẳn mọt gông,
Bản trạch, Ta về không kịp nữa,
Làng ta, người, ngựa đã qua sông.
 [Nguyễn Tà Cúc, “Tặng một lão niên thi sĩ đọc thơ cứ  tưởng có mình ở trỏng” (13)]

Sau 1975, Tú Kếu vẽ lại một bức tranh khác, từ tình cảnh một người tù cải tạo được tha nhưng bị đuổi khỏi nhà tới những người bị tử hình vì chống lại nhà nước Cộng sản:

[…] Chính đêm ấy
mảnh trăng liềm đẫm máu
Tôi tưởng chừng như thân thể bạn bè tôi
Uốn cong lên – khi bị bắn tơi người
Miệng nguyền rủa
nhưng không còn tiếng nói
Môi mấp máy – đúng, môi còn mấp máy
Như muốn tuôn dòng thác đổ căm hờn
Như muốn gào to
Không thể dã man hơn
– Không thể dã man hơn, quân khốn kiếp…[Tú Kếu, Di cảo]

Tôi đã được đọc một số văn bản từ tòa án sau 1975 về những phiên tòa xử tử hình những kẻ “phản động âm nưu dùng vũ khí chống lại nhà nước…” khi nghiên cứu về khối tù nhân chính trị bị giam sau 1975. Tôi không bao giờ quên bức ảnh chụp Thượng tọa Tuệ Sĩ, Ni cô Trí Hải và “đồng bọn” trong một phiên tòa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những con người tiều tụy này dư biết họ đang nằm trong tay bạo quyền nhưng không nài nỉ van xin. Thượng tọa Tuệ Sĩ bị kết án tử hình nhưng sau được giảm án nhờ sự tranh đấu của Trung Tâm Văn bút Việt Nam Hải ngoại và các đoàn thể Nhân Quyền trên thế giới. Từ đó, tôi hình dung Tú Kếu, cũng tiều tụy không kém, đứng trước một tòa án tương tự. Tất cả tù nhân chính trị Cộng sản như Tú Kếu đều đứng trước cái chết và trong giây phút đối đầu với bạo quyền, có thể  họ nghĩ họ rất cô độc. Bởi thế, năm 2017, gần 10 năm sau khi tìm được Thơ Đen, tôi đề nghị nhà thơ Viên Linh in lại trọn tác phẩm này trong một số Khởi Hành đặc biết để lưu giữ thơ ông.

Thơ Đen, Tưởng niệm nhà thơ Tú Kếu, Khởi Hành in lại, Số 241-242, Tháng 2&3.2017

Tôi xin cung cấp tiểu sử Tú Kếu, in trước 1975 trên tập Thơ Đen, để ai muốn nghiên cứu về ông có tài liệu chính xác, vì (nếu tôi không nhầm) ông chính là giám đốc Nhà xuất bản Tiếng Nói:

Tên thật Trần Đức Uyển, sinh năm 1941 tại Sơn Tây Bắc Việt, di cư năm 1954. Từ năm 1958 tới 1962, dạy học kiếm ăn tại các trường Trung Học tỉnh lẻ, sau đó bỏ phấn, xoay nghề, về Saigon làm báo. Năm 1962, phiên dịch và sáng tác cho các tạp chí Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Hữu. Năm 1963, tổng thư ký tòa soạn cho tuần báo Ngàn Khơi, kế đó, ở trong nhóm chủ biên nhiều nhật, tuần báo khác. Thơ  Đen của Tú Kếu xuất hiện lần đầu tiên trên nhật báo Ngôn Luận, rồi tuần báo Ngàn Khơi, trong mục “Trồng Cây Chuối”. Từ sau ngày 1.11.1963, chính thức hành nghề chửi thiên hạ kiếm ăn cho các nhật báo: mục “Thơ Cua” của Dân Việt, Việt Báo với bút hiệu Ba Càng; mục “Thơ Chua” trên nhật báo Sống, Tiền, Thân Dân, Tranh Đấu với bút hiệu Tú Kếu; mục “Thơ Phóng Xạ” trên nhật báo Tin Sáng với bút hiệu Lý Bí; mục “Thơ Cóc” trên nhật báo Tiền Tuyến với bút hiệu Cậu ông trời; và liên tục cộng tác với các nhật, tuần báo Thống Nhất, Cải Tạo, Thiện Chỉ, Bến Nghé, Sài Thành, Lửa Việt, Sân Khấu.” [Thơ Đen, sđd]

Tiểu sử Tú Kếu như thế được xem như chính xác, duy có một điều: Tên thật của ông không phải Trần Đức Uyển mà Nguyễn Huy Nhiên. Ông thường ký Trần Đức Uyển cho những bài thơ không trào phúng.

Trước khi chấm dứt phần 3 về hoạt động của văn nghệ sĩ Miền Nam, nhất là văn nghệ sĩ từng phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, tôi muốn lập lại chủ đích của phần này. Đó là trình bày một cách cụ thể về sự lên tiếng hay chống lại nhà cầm quyền Cộng sản của văn nghệ sĩ Miền Nam. Cho nên, theo tôi, văn thơ “giải thoát” có thể đã giúp riêng Tô Thùy Yên sau 1975, nhưng chắc chắn không thể  đại diện cho văn chương của rất nhiều người cầm bút Miền Nam –một tập thể tồn tại cùng chiến hữu đồng đội trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa–như đã được dẫn chứng chỉ qua 3 trường hợp trên.

 

Nguyễn Tà Cúc

07-2019

(còn tiếp)

 

CHÚ THÍCH

(9) Bức ảnh thượng dẫn được trích từ bài Nguyễn Phúc Thọ của Đại úy TQLC Tô Văn Cấp trên Dòng sông cũhttps://dongsongcu.wordpress.com/2018/06/03/nguyen-phuc-tho/ . Tác giả ghép tên 2 anh em Trung tá Phúc và Trung tá Thọ làm tên cho hồi ức trên.

Độc giả cũng có thể đọc thêm về tiểu sử và hoạt động của phóng viên Đặng Văn Phước với rất nhiều chi tiết về sự chiến đấu của quân nhân binh sĩ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa qua bài phỏng vấn: Đặng Văn Phước: Người phóng viên gan lì của chiến trường VN, nhật báo Viễn Đông, ngày 17.4.2009, http://viendongdaily.com/dang-van-phuoc-nguoi-phong-vien-gan-li-cua-chien-truong-vn-DqG8eZuT.html .

(10)  Hà Thượng Nhân muốn nói tới đoạn thơ sau đây trong bài “Chiều trên Phá Tam Giang:

[…] Ta tự hỏi vì sao
(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi?)
Và ta tự trả lời.
(Có bao giờ ngươi tự trả lời?)
Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ
Phải quạt, phải quạt
Chỉ vì nó phải quạt.
Ta thương ta yếu hèn.
Ta thương ngươi khờ khạo.
(Tô Thùy Yên, Thơ Tuyển, trang 78, Hoa Kỳ, 1995)

 (11)  Tôi xin cảm ơn các sĩ quan trong Ban Biên Tập (Bùi Quyền, Trần Khắc Thuyên, Trần Ngọc Toàn, Nguyễn Đức Thu, Nguyễn Văn An, Trần Văn Hiển) Khóa 16-Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam Nam, nơi tôi trích tấm ảnh này. Tôi cũng mạn phép được chú thích thêm vào những chữ viết tắt hay tên họ của các sĩ quan trong hình để độc giả có thể hiểu rõ hơn. Xin cho biết nếu có sai sót để tôi có thể điều chỉnh hay bổ túc.

 (12)  Độc giả có thể đọc thêm, về Trung tá Nguyễn Xuân Phúc và Trung tá Nguyễn Phú Thọ, và nguyên văn bài thơ Mai mốt là Xuân qua 1 bài viết tưởng niệm Trung tá Thọ của Thiếu tá Hồ Đắc Huân:

” Trung tá Nguyễn Xuân Phúc có người em ruột là Trung tá Nguyễn Phú Thọ, cùng tốt nghiệp Khóa 16 […] Lúc này Cụ Nguyễn Xuân Đản hiện là Giám Đốc Nha Địa Dư tại Đà Lạt dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. […] Sau tháng 4 năm 1975, ông Thọ […] trải qua các trại tù từ Nam ra Bắc với thời gian tổng cộng: 11 năm, 1 tháng, 1 ngày. Trong lần Việt Cộng đưa ông đi mổ, 4 ngày sau ông trốn khỏi bệnh viện […] may mắn được người hướng dẫn vượt biên. Qua chuyến thứ tư mới thoát và qua đảo Palau Bidong năm 1986…” [Hồ Đắc Huân, “Những giờ phút cuối cùng với Trung Tá Nguyễn Phú Thọ“, Ngày 14. 11. 2011, http://www.viendongdaily.com/nhung-gio-phut-cuoi-cung-voi-trung-ta-nguyen-phu-tho-rYzvwJZA.html]

(13)  “Tặng một lão niên thi sĩ đọc thơ cứ  tưởng có mình ở trỏng” là mượn từ câu đề tặng “Tặng một thiếu phụ đọc thơ cứ tưởng có mình ở trong”, Tô Thùy Yên, Chuyện tình người lỡ vận, (Tháng 9-1971)

Nguồn: http://www.gio-o.com/HoLieu/NguyenTaCucTTYTamLyChien2.htm

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Scroll Up