Phía sau một bài thơ,
Thoáng âm bóng những bài thơ khác nữa.
Một người,
Không hẳn một hình thôi.

Rất có thể những ghi chú này không cần thiết đối với người đọc. Trong trường hợp đó, xin người đọc vui lòng coi như chẳng có những ghi chú này.

Hái rau

Bài thơ này, tác giả làm khi đang ở trong trại tù cải tạo, tất nhiên làm trong đầu, lẩm nhẩm bôi sửa trong đầu, đọc cho vài bạn tù nghe qua, không ghi chép được. Mãi sau, khi đã trở về, có thêm chút điều kiện, tra lục ký ức được một số đoạn. Mấy bạn tù đến thăm, đọc cho thêm một số đoạn nữa. Thơ lục bát vần nối mắt xích, gây khó khăn cho việc ráp nối hoàn chỉnh bài thơ từ đống phế liệu rời rạc hỗn độn đó. Bỏ thương vương tội, nên đã phải trở đi trở lại nhiều lần với bài thơ. Do đó, bài thơ có mấy dị bản. Nay chọn lấy bản sau cùng nằm trong tập thơ này, coi như một cách mồ yên mả đẹp cho bài thơ. Và cũng cho một quá khứ mãi còn vật vã.

Sống đong bữa một, tâm chèn khổ sao.

Một cực hình cấp địa ngục của đời tù thâm niên: phải đối diện chăm chăm với mỗi cảnh khổ duy nhất thường trực bất biến, triền miên sao đồ lại. Phải chăng sự luân phiên chuyển đổi những cảnh khổ khác nhau trong đời người phần nào cũng giúp được cho con người chịu đựng nổi đời sống?

Miếng ăn đắng, nuốt nghẹn ngào,
Chỗ sân thấp, biết khoảnh nào sạch dơ.

Dante Alighiri / Paradiso / 17:58-60 / Tạm chuyển nghĩa theo một bản dịch Anh ngữ: Ngươi sẽ nhận ra rằng miếng ăn nhà người cay đắng dường nào, cũng như phải lên xuống những bực thềm nhà người khiến đôi chân ngươi rêm mỏi dường nào.

Quán xanh còn mở cho chàng về qua?

Rimbaud / Comédie de la soif:

Et si je redeviens
Le voyaguer ancien,
Jamais l’auberge verte
Ne peut bien m’être ouverte

Tạm dịch: Và nếu như tôi lại trở thành / Kẻ lữ hành xưa / Quán xanh sẽ chẳng bao giờ / Còn có thể mở cho tôi.

Cám ơn rau của người hiền…

Liên tưởng đến hai câu thơ Hán ngữ, không rõ tác giả:

Nhất đạo Di, Tề xuất Thủ Dương
Cộng ngôn vi khổ bất kham thường

Tạm dịch: Một đoàn Bá Di, Thúc Tề ra khỏi núi Thủ Dương / Cùng nói rằng rau vi đắng quá không ăn nổi.

Suối bãi sông Hằng

Sông Hằng suối bãi chờ nhau
Cát mòn mỏi cát, mùa hao hớt mùa.

Lời Phật: Các kiếp của mỗi chúng sinh nhiều như số cát nơi sông Hằng.

Tưởng người, nhớ buổi nguồnd đào vẫy tay.

Tào Đường / Tiên Tử Tống lữu Nguyễn Xuất Động:

Hoa lưu động khẩu ưng trường tại
Thủy đáo nhân gian định bất hồi
Trù tướng khê đầu tòng thử biệt
Bích sưon minh nguyệt chiếu thương dài

Tạm dịch: Hoa nơi cửa động cam đành ở lại mãi / Nước xuống cõi trần chắc hẳn chẳng trở về/ Não nuột đầu khe từ cuộc cách biệt ấy / Núi biếc trăng sáng rọi rêu xanh.

Đại bình nguyên

Qua đằng đẵng đi về một bóng mộng…

Lời Phật: Xuyên qua hằng hà sa số kiếp, Như Lai đã thênh thang đi mãi, đi đi mãi. Khổ não thay, cuộc triền miên sinh tử đó.

Chia tay ải Tây

Tư Mã Thiên / Sử ký / Lão Tử liệt truyện: Lão Tử ở nhà Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Đến cửa ải phía Tây, quan coi cửa ải nói: Ngài sắp đi ẩn, xin hãy gượng vì tôi mà làm sách. Lão Tử bèn làm sách Đạo đức kinh. Đoạn bỏ đi, không biết đời ông chung cuộc như thế nào.

Đêm quan ngoại

Gối đầu lên một chỗ không lý…

Tân ước / Luke 9:58: Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu.

Nhà xưa, lửa cất ủ

Tiếng con chó nhỏ bên hè
Sủa bóng trăng lu.

Ca dao Việt Nam:

Bực mình con chó nhỏ sủa dai,
Sủa nguyệt lâu dài, sủa bóng trăng lu.

Nhóm từ nguyệt lâu dài không rõ nghĩa, nhưng dàn dựng cho lời thơ một cảnh sắc hoang đường lạ lẫm. Thi tính, đôi khi nếu chẳng phải là thường khi, vượt ra ngoài những diễn luận thông phàm. Một trong những kỳ tích của thơ, có lẽ cũng của tình yêu nữa, mà ôm cõng được cái thực tách thoát khỏi chỗ thường nhật. Cái thực trong thơ là cái thực ròng.

Một mai phò giá triệu, hầu minh tinh.

Ca dao Việt Nam:

Một mai ai đứng minh tinh,
Ai phò giá triệu, ai vin quan tài?

Minh tinh: tấm vải dài viết tên họ, chức hàm của người chết, đặt bên cạnh linh sàn, cũng gọi là minh triệu. Giá triệu: bàn thờ nhỏ đặt tấm minh triệu rước phía trước quan tài lúc đi táng.

Dắt tay gã mù mê qua gió cát.

Thần thoại Hy Lạp: Oedipus về già điên loạn tự móc mắt, sống đời lang thang, phải nhờ con gái Antigone dắt qua sa mạc về thành phố Thebes mà ông từng trị vì. (Tham khảo: Sopholes/ Oedipus Rex / Oedipus ở Colonus / antigone).

Huế oán

Bạn về quê bạn, đường xa ngái…

Ca dao Việt Nam:

Rồi mùa, tót rã, rơm khô.
Bạn về quê bạn, biết mô mà tìm.

Người lỡ thời đi tới xứ mô?

Ca dao Việt Nam:

Cây khô xuống nước cũng khô,
Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo.

Nhớ có lần, trên bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát

Bài thơ này được viết vào tháng 11/1999, khi tác giả nghe tin cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền sắp hoàn tất.

Cổ bản đưa: Từ phu tướng đi…

Bản Dạ cổ hoài lang (Đêm nghe tiếng trống nhớ chàng), tiền thân của điệu Vọng cổ, do nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) sáng tác, khởi lên như sau: Từ là phu tướng / Bảo kiếm sắc phong lên đàng / Vào ra luống trông tin chàng / Đêm năm canh mơ màng / Trông ngóng trông tin nhàn / Gan vàng thêm đau…

Mòn mõi, thành Nam, nghĩa sĩ tận…

Nguyễn Đình Chiểu / Thơ điếu Phan Thanh Giản:

Ải Bắc ngày trông tin nhạn vắng.
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.

Nghĩa sĩ cũng là từ dùng của Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Kèn chiều tiếng lạ quặn trời quê.

Tôn Thọ Tường / Vịnh Chùa Cây Mai

Lặng lẽ chuông quen con bóng xế,
Tò le kèn lạ mặt trời chiều.

Cũng Tôn Thọ Tường / Vịnh Bồn kèn chiều:

Tò le kèn thổi tiếng năm ba.

Tiếng kèn hạ cờ chiều quân đội xâm lược Pháp du nhập Việt Nam, khác biệt hẳn với tiếng kèn cổ nhạc Việt Nam quen thuộc.

Áo đạo chìm cây cỏ Cấm sơn.

Tương truyền Phật thầy Tây An, tôn danh của nhà sư Đoàn Minh Huyên, tiền bán thế kỷ XIX, tổ sáng lập giáo tông Bửu Sơn Kỳ Hương, sau một thời gian rao giảng đạo pháp ở vùng châu thổ sông Cửu Long, cuối cùng đã ẩn tích và viên tịch tại chùa Tây An trong vùng Thất Sơn, Châu Đốc.

Đốt tay Thân Dậu niên lai?

Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Long vĩ xà đầu khởi chiến chinh
Can qua xứ xứ loạn đao binh
Mà đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Em về giồng dưới, qua bưng gió…

Ca dao Việt Nam:

Em về giồng dứa, qua truông,
Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh.

Muối mặn, gừng cay, trắng tóc xanh.

Ca dao Việt Nam:

Tay bưng đĩa muối chấm gừng,
Gừng cay, muối mặn, xin đừng bỏ nhau.

Gừng? Muối? Thể hứng đẩy đưa? Hay là tình nghĩa lứa đôi được tích luỹ từ sự chăm sóc nhau trong những lúc trái gió trở trời ở một vùng đất còn đang khai hoang, thưa người, thiếu thốn phương tiện điều trị?

Lão trượng

Anh phải sống, mai này nước rút…

Anh phải sống, tên một truyện ngắn của Khái Hưng, tả cảnh người vợ tự nguyện hy sinh trên dòng nước lũ để người chồng được sống sót chăm nuôi đàn con dại.

Đất trồi lên, xuất hiện kỳ lân…

Tương truyền khi sắp hạ sinh Khổng Tử, mẹ ông gặp một con kỳ lân nhả tờ ngọc thư mang dòng chử: Con của Thủy Tinh, nối nhà Chu suy, làm vua không ngai. (Trần Trọng Kim / Nho giáo)

Thời thánh vịnh, hiền thi kết tập…

Lịch sử nhân loại cổ đại có một thời kỳ bừng thức đồng bộ của tư tưởng, thi ca, ở Đông phương cũng như ở Tây phương, thời kỳ xuất hiện của những nhà hiền triết, tiên tri, thi sĩ, thời kỳ của những Veda, Kinh thi, Thánh vịnh, Illiad, Odyssey…, thời kỳ mà Karl Jaspers mệnh danh là thời kỳ trục trong cuộc vận hành của lịch sử trí tuệ nhân loại.

Đồng hoang thánh thót phượng cầu hoàng…

Phượng là con trống, hoàng là con mái. Phượng cầu hoàng, tên một ca khúc diễm tình của Tư Mã Tương Như. Phượng hề, phượng hề, du ngao tứ hải cầu kỳ hoàng… Hỡi chim phượng, hỡi chim phượng, rong chơi bốn biển tìm chim hoàng… Truyện Kiều: Khúc đâu Tư Mã Phượng cầu…

Người lạc người bởi ngọn đông phong…

Ca dao Việt Nam:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Gió nào độc bằng gió Gò Công.
Ngọn đông phong thổi lạc vợ xa chồng,
Đêm nằm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi.

Sao lúc rời nhau chẳng đổi áo…

Ca dao Việt Nam:

Anh về để áo lại đây,
Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng.

Bờ giếng xưa, còn ai đứng trông?

Ca dao Việt Nam:

Tới đây, dây vắn, gàu thưa,
Hỏi người cố cựu giếng xưa ai đào?

Khoác áo xuân, ra với đất trời…

Luận ngữ / Tiên Tiến: Gặp buổi nhàn nhã, Khổng Tử hỏi chí hướng một số môn sinh… Tăng Điểm thưa: Vào cuối mùa xuân, áo xuân đã may xong, cùng năm sáu người thanh niên, sáu bảy trẻ em, đi tắm sông Nghi, hóng gió đàn Vũ Vu, ca hát mà ra về. Khổng Tử ngậm ngùi than: Ta cũng cùng chí hướng với Điểm vậy.

Quạt ấm pha trà mộc độc ẩm…

Nguyễn Trãi / Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác:

Hương lý tài qua như mộng đáo
Cam qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời ốc phong vân hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch niên

Tạm dịch: Làng xóm vừa trở về, tưởng như nằm mộng thấy / Loạn lạc chưa kết thúc, mừng tấm thân còn vẹn toàn / Bao giờ làm được nếp nhà dưới ngọn núi mây kia / Múc nước suối nấu tra, gối đá ngủ.

Toan xuống núi, khoe câu thơ đắc…

Giả Đảo / Tuyệt cú:

Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lựu
Tri âm như bất thưởng
Quy ngoạ cố sơn thu

Tạm dịch: Ba năm làm được hai câu thơ / Mỗi bận ngâm lên, đôi dòng lệ chảy / Nếu như bạn tri âm không tán thưởng / Thì ta lại về nằm núi cũ mùa thu.

Xé rải gió tờ tờ sách nát
Đi kéo theo chuỗi chuỗi cười tan…

Làm đoạn thơ này, không khỏi liên tưởng đến những Diogène, Sở Cuồng, Nễ Hành, Tế Điên, Hölderlin, Gérald de Nerval, Van Gogh…, à hẳn nhiên cả Bùi Giáng nữa. Phải chăng cuộc vận hành thật sự đầy hăm hở sáng tạo của ý thức phiêu lưu khởi đi từ chỗ can đảm lìa bỏ những tri thức đã được ghi nhận để rồi dẫn lần đến chỗ hủy diệt tang thương tận cùng của chính ý thức? Chân lý có nhiều cánh cửa mở vào, trong số dường như có một cánh cửa cực kỳ hiểm nghèo, cánh cửa của điên loạn.

Thắp tạ

Nhặt trái nưa về nhộm dạ sầu…

Cây nưa hay mạt nưa mọc ở vùng rừng núi biên giới Việt Nam–Campuchia, trái được dùng để nhộm đen vải lãnh Mỹ A của địa phương miền Tây nổi tiếng một thời.

Rau hạnh, rau vi từ lúc có
Chưa từng người biếc bãi Kinh thi.

Rau dại (hạnh, phong, phỉ, quyền, vi…) mọc bát ngát khắp Kinh thi. Đơn cử:

Sâm si hạnh thái
Tả hữu lưu chi
Yểu điệu thục nữ
Ngụ mị cầu chi

Tạm dịch: Rau hạnh so le / Mọc hai bên dòng nước / Có nàng thục nữ yểu điệu / Khiến chàng thức ngủ đều mong cầu.

Hát một chiều, tiền thưởng ngập chân.

Bạch Cư Dị / Tỳ bà hành:

Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số.

Tạm dịch: Các chàng trẻ trung đất Ngũ Lăng tranh nhau thưởng tiền / Mỗi khúc đàn, không biết bao nhiêu tấm lụa hồng.

Phan Huy Vịnh chuyển thành thơ Việt:

Ngũ Lăng, chàng trẻ tranh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.

Du mộng

Du mộng: hồn mộng lang thang. Bài thơ tuyệt mệnh của Basho, qua một bản dịch Anh ngữ:

Ngoạ bệnh trong một chuyến ngao du.
Nhưng trên những cánh đồng tàn úa,
Hồn mộng ta còn lang thang.

Xa vời chó sủa
Sương trăng cửa động không tìm ra…

Tào Đường / Lưu Nguyễn nhập thiên thai:

Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt
Thời thời khuyển phệ động trung xuân

Tạm dịch: Lúc lúc gà gáy trên vách núi dưới trăng / Chốc chốc chó sủa nơi hang động đang xuân.

Mất chiếc áo để quên
Nhớ dấu cành sen đó…

Ca dao Việt Nam:

Đêm qua, tát nước đầu đình,
Để quên cái áo trên cành hoa sen.

Kẻ lên về được dặn
Đừng ngó lại tiền căn…

Thần thoại Hy Lạp: Trên đường trở về dương thế, chợt một lúc nào đó, Orpheus quên điều kiện giao ước, ngoái nhìn lại Eurydice và nàng đã tan biến, vĩnh viễn tan biến. (Tham khảo: Ovid / Metamorphoses, 10:52…)

Cựu ước / Genesis 19:30: Trên đường tẩu nạn, người vợ của Lot, không tuân theo lời dặn, ngoái lại nhìn học sinh thành phố Sodom và Gomorrah đang bị hủy diệt, và nàng đã tan biến thành một thân trụ muối.

Tỵ khách

Xuất môn, chuyển phán, dĩ trần tích. (Đỗ Phủ / Hiểu phát công an sổ nguyệt khế thúc thử huyện). Tạm dịch: Ra cửa, đảo nhìn, đã dấu cũ. Câu thơ chuyển tứ nhanh, thật nhanh, chỉ bảy chữ thôi mà lại bao chứa cả một thời lượng vô lường. Chao ôi, việc đời nhanh đến vậy sao?

Cơn mê

La chair est triste, hélas! Et j’ai lu tous les livres. (Stéphane Mallarmé / Brise Marine) Tạm dịch: Thân xác thì buồn bã, than ôi! Và ta đã đọc rồi các quyển sách.

Thấm thoát đời ta

Chim qua trời mang theo vệt bay.

Lời Phật: Bậc Bồ tát đi qua trần gian, như con chim bay qua bầu trời, không để lại dấu vết.

Hành giả âu sầu

Kinh Phật Bát nhã ba là mật đa (Paramitas): Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha… Vì là một mật chú phỏng âm Phạn ngữ nên thường không được dịch ra, nghĩa đại để: Vượt qua, vượt qua, vượt qua nữa, vượt qua thêm nữa…

Én dệt vội vàng chiều.
Ngơ ngác lầu không, thờ thẫn nguyệt…

Truyện Kiều: Xập xòe én liệng lầu không…

Soi mệnh

The stars are threshed, and the souls are threshed from their husks. Tạm dịch: Những vì sao được giả giần, và những linh hồn được giả giần khỏi lớp vỏ trấu của chúng. Lời của William Blake, tôi đọc thấy trích dẫn trong thi phẩm đầu tay Early Poems của W.B. Yeats, không ghi chú xuất xứ. Tôi có thử tìm trong tuyển tập thơ của Blake (bản Oxford University Press 1994), nhưng không gặp.

 

Tô Thùy Yên

Nguồn: Thắp Tạ, 2004

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Bình Luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Scroll Up