Kể từ sau cái chết của vua Tự Đức (19.7.1883), song song với những rối loạn trong triều, áp lực của thực dân Pháp đối với việc triều chính ngày càng nặng nề hơn. Sau hòa ước Giáp thân năm 1884, dù về mặt hình thức còn có sự phân chia 3 miền khác biệt nhau: thuộc địa (Nam kỳ), bảo hộ (Bắc kỳ), tự trị (Trung kỳ), song về thực chất, cả Việt Nam đã là một thuộc địa. Điều này rõ hơn kể từ thời vua Đồng Khánh (1885-1889) và trở nên dứt khoát với Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902). Thời gian cai trị của Doumer tại Đông Dương cũng nằm trong thời gian trị vì của vua Thành Thái (1889-1907), một trong ba nhà vua bất khuất của triều Nguyễn.

THÀNH THÁI, ÔNG VUA “ĐIÊN” VÌ YÊU NƯỚC

Vua Thành Thái trong quốc phục

Vua Thành Thái có tên Nguyễn Phúc Bửu Lân, sinh năm 1879, khi mới lên 4 tuổi thì thân sinh ông là ông hoàng Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân) được vua Tự Đức lập di chiếu cử làm người kế vị và chưa kịp làm lễ tấn phong đã bị hai Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phế truất. Tuổi thơ của ông trải dài qua những biến động cung đình: việc sát hại vua Hiệp Hòa, cái chết trẻ của vua Kiến Phúc, cuộc binh biến ở kinh thành Huế và sự xuất bôn của vua Hàm Nghi.

Sau khi vua Đồng Khánh thăng hà (28.1.1889), Khâm sứ Pháp và triều đình Huế quyết định chọn ông Bửu Lân mới 10 tuổi lên kế vị. Bà mẹ bị ám ảnh bởi bi kịch của người chồng (vua Dục Đức), không muốn con trai đi vào vết xe cũ, song không cưỡng lại được ý muốn của Pháp và triều thần.

Trường hợp lên ngôi của hoàng thân Bửu Lân, niên hiệu Thành Thái, cũng nhuốm đầy màu sắc giai thoại. Người ta kể rằng vào thời điểm ấy, dượng rể Bửu Lân là Diệp Văn Cương (lấy bà công nữ Thiện Niệm là em gái ông hoàng Dục Đức), một người rất giỏi tiếng Pháp, đang làm thông ngôn trong tòa Khâm sứ Huế. Một ngày nọ, sau khi vua Đồng Khánh nằm xuống, triều thần cử người qua Tòa khâm để bàn bạc việc chọn người kế vị. Lúc ấy ông hoàng Bửu Đảo (sinh năm 1885), con vua Đồng Khánh, chưa đầy 4 tuổi, nên khả năng kế vị có thể đã bị gạt ra ngoài, tuy nhiên khi các quan lại hỏi ý kiến Tổng trú sứ Rheinart nên đề cử ai thì ông Cương đã nhanh miệng dịch ra tiếng Pháp rằng: “triều đình muốn đưa ông hoàng Bửu Lân lên làm vua, chẳng hay ý kiến Tổng trú sứ như thế nào?”. Rheinart vừa gật đầu, vừa nói mấy câu và ông Cương đã dịch ra tiếng Việt cho các đại thần nghe là y muốn chọn ông hoàng Bửu Lân lên ngôi.

Chẳng rõ giai thoại trên có bao nhiêu phần trăm sự thật, nhưng rồi lễ tức vị cũng đã diễn ra đúng vào ngày mồng một Tết Kỷ Sửu, nhằm ngày 31.1.1889. Tuy còn rất trẻ, nhưng do đã chứng kiến những nghịch cảnh xảy ra trong gia đình từ lúc 5-6 tuổi, nhà vua sớm trở thành một con người dày dạn. Nước da ngăm đen, cặp mắt sáng, linh hoạt, chứng tỏ ông là người có nghị lực và sự thông minh, có thể sớm thích nghi với cuộc sống mới. Ngay từ những năm đầu, triều đình đã cử ra cho ông 4 vị Phụ chánh, gồm hai Phụ chánh thân thần (người trong hoàng tộc) là Tuy Lý công Miên Trinh và Hoài Đức công Miên Lâm cùng hai Phụ chánh đại thần là Nguyễn Trọng Hiệp (có tài liệu viết là Hợp) và Trương Quang Đản. Ngoài ra, người ta còn tìm thầy dạy thêm cho ông chữ Hán, lịch sử thế giới, các nghi thức trong đời sống cung đình….Nhờ đó mà không bao lâu sau, nhà vua đã sớm trưởng thành, và có lẽ cũng từ đấy, ông ý thức được nỗi nhục mất nước đang đè nặng lên cuộc sống của đồng bào ông.

Năm 1897, khi Paul Doumer đến Việt Nam làm Toàn quyền Đông Dương thì vua Thành Thái đã 18 tuổi. Hẳn nhiên những biện pháp cải cách thô bạo của viên chức này đã tạo nên một cú sốc cho vì vua trẻ. Doumer mặc nhiên xóa sổ qui chế bảo hộ, xóa bỏ sự “tự trị” của Trung Kỳ dưới quyền của triều đình Huế theo tinh thần hòa ước Giáp Thân 1884, thuộc địa hóa toàn bộ Đông Dương. Tại triều đình Huế, một trong những việc làm táo tợn nhất của ông ta là giải tán Cơ mật viện, cơ quan tham mưu cao cấp nhất và gần gủi nhất của nhà vua, lập ra Hội đồng Thượng thư đặt dưới sự chủ trì của viên khâm sứ Huế, đồng thời đặt cạnh mỗi bộ một viên chức Pháp để giám sát việc làm của lục bộ.

Trong những điều kiện như vậy, một ông vua cương nghị như Thành Thái biểu lộ những phản ứng gay gắt, thậm chí đôi lúc quá đáng do không kiềm chế được nỗi phẫn hận, cũng là chuyện dễ xảy ra. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là những việc làm của ông vào hai thập niên 1890 và 1900 được các cây bút Pháp, thậm chí cả một viên thượng thư dưới quyền ông miêu tả với tất cả sự “ghê rợn” của chúng.

Vua Thành Thái trong triều phục

Xin hãy xem cây bút George Bois viết về ông trong một bài du ký dài nhan đề En Cochinchine – Excursions et Promenades (Những cuộc du lãm và dạo chơi ở Nam Kỳ), đăng trong Tạp chí Đông Dương (Revue Indochinoise) năm 1907, năm nhà vua bị phế truất:

”…Vua Thành Thái chỉ có một ý tưởng : thỏa mãn tất cả tính ngông của ông, đôi lúc thật kỳ cục và bạo ác. Với óc tò mò, ông chỉnh sửa chính tả chữ quốc ngữ, thứ ngôn ngữ rông ngả (bâtarde, viết nghiêng) do các giáo sĩ đặt ra khi họ mới đến xứ này. Chắc hẳn nhà vua đã đọc trong các báo phát hành ở Paris những dự án của ông Leygues về sự cải cách chính tả ! Ông thích môn cơ khí, điện báo, bước đầu ứng dụng một cách không mấy thành công những tiến bộ trong y khoa và phẫu thuật.” (tài liệu đã dẫn – trang 1783).

Ở một đoạn khác, G. Bois kể rằng sau khi lên ngôi một thời gian, nhà vua đào được một kho vàng do các tiên đế chôn giấu và tiêu xài thỏa thích.

Cũng như Bois, viên Khâm sứ Huế là Brière (1891-1894 và 1895-1898) xác nhận vua Thành Thái rất bạo liệt về phương diện nhục dục, thường hành hạ các cung nữ đến chết và thường trốn ra khỏi hoàng thành vào ban đêm để đắm mình trong những cuộc truy hoan (??).

Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là những gì mà thực dân Pháp gọi là “chứng điên” của vua Thành Thái lại được chính một viên đại thần của ông là Hộ Bộ thượng thư Huỳnh Côn kể lại chi tiết trong tập hồi ký dài đăng nhiều kỳ trong Revue Indochinoise năm 1924. Ông Côn kể rằng sau một thời gian trị vì, nhà vua ngày càng có những tính khí kỳ quặc, chẳng hạn như một hôm ông ra lệnh cho các viên Thừa Thiên Phủ doãn (như Thị trưởng ngày nay), Thừa Thiên Phủ thừa đi tìm dấu chân cọp và chân voi để ông đi săn. Bản thân ông Côn cũng có lần bị nhà vua sai đi tìm dấu chân cọp, sau khi tìm không ra, ông ta bị nhà vua bắt quì một chỗ từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều (??).

Người ta tự hỏi có thực sự nhà vua “điên” như thế không và do đâu mà những lời đồn đại trên đã xuất hiện ngay trong thời gian ông trị vì ?

Căn cứ vào nhiều tư liệu viết về thời kỳ này, người ta thấy vua Thành Thái là một trong những ông vua tiến bộ nhất trong cung cách sinh hoạt ở triều đình. Ông là vị vua đầu tiên cắt tóc ngắn, trong một buổi thiết triều đã khiến cho các quan lại tròn mắt ngạc nhiên. Ông tò mò tìm hiểu những tiến bộ khoa học kỹ thuật của Pháp, cái nào thử nghiệm là ông bắt tay vào. Tuy nhiên, trước hành động quá đáng của phía Pháp, nhà vua ngày càng bị ức chế. Năm 1907, ông muốn thực hiện chuyến Bắc tuần, nhân đó ghé lại Thanh Hóa thăm lăng tẩm tiền nhân, viên Khâm sứ Huế buộc ông phải để cho Thượng thư bộ Hộ Huỳnh Côn đi theo thì mới chịu cấp kinh phí.

AI CHỐNG LẠI VIỆC PHẾ TRUẤT VUA THÀNH THÁI?

Không lâu sau chuyến Bắc tuần, một hôm trong cơn nóng giận, vua Thành Thái cầm súng nhắm bắn vị chủ tịch Tôn Nhơn phủ. Phát súng như giọt nước tràn ly, theo một kịch bản chuẩn bị sẵn, Khâm sứ Pháp Levecque triệu tập triều thần lại, tuyên bố xét vì nhà vua đang mắc bệnh tâm thần nên cần được tĩnh dưỡng. Cuối cùng ông bị ép ký vào chiếu nhường ngôi cho con trai là hoàng tử Vĩnh San mới lên 7 tuổi (5.9.1907).

Không thấy chính sử nêu rõ chi tiết về cuộc thảo luận giữa đình thần và Khâm sứ Levecque về việc phế truất nhà vua, song một vài tư liệu có kể lại về phản ứng của Thượng thư bộ Lễ kiêm quản lãnh Thị vệ Ngô Đình Khả trước việc làm này. Khi ấy, ông Khả là vị đại thần duy nhất không chịu ký tên vào quyết nghị phế truất nhà vua.

Thượng thư Bộ Lễ Ngô Đình Khả

Vị thượng thư này xuất thân là một Thông sự ở Tòa Khâm sứ Huế, xếp ngang hàm Tri phủ trong cửu phẩm văn giai của triều đình (1891). Năm 1896, ông được thăng Thái Thường tự khanh (chánh tam phẩm) và sang năm sau (1897), khi Pháp mở trường Quốc học tại Huế, sửa đổi chương trình học tập, đưa tiếng Pháp vào, Ngô Đình Khả được bổ làm Phó Chưởng giáo (Hiệu phó). Những năm đầu thập niên 1900, ông được vua Thành Thái cử làm Thượng thư bộ Lễ kiêm quản lĩnh Thị vệ, được tháp tùng nhà vua tham gia chuyến Bắc tuần năm 1907.

Như một hậu quả thấy trước của việc ông Khả không ký vào kiến nghị truất phế vua Thành Thái, chỉ một tháng sau khi vua Duy Tân lên ngôi, Khâm sứ Pháp Levecque “hội thương, nói Đình Khả không làm tròn chức trách, cần phải xử trí” (Đại Nam Thực Lục). Phủ Phụ chính tâu lên xin cho ông được mang nguyên hàm về quê trí sự (Quảng Bình), được cấp bổng, song về sau Levecque yêu cầu không cấp tiền bổng nữa. Khi ấy, Ngô Đình Khả mới 57 tuổi. Mãi đến năm 1914, ông mới được vua Duy Tân khai phục nguyên hàm Thượng thư, tiếp tục chi cấp hưu bổng cho đến ngày ông mất (1923).

Vua Duy Tân lúc mới lên ngôi (1907)

Như vậy cụm từ “Bỏ vua không khả” (có tài liệu viết “đày vua không Khả) vừa có nghĩa là “không thể bỏ vua”, vừa ám chỉ việc không có sự đồng tình của ông Ngô Đình Khả trong chủ trương phế truất vua Thành Thái.

Lê Nguyễn
3.7.2019

Nguồn: Trang FB của Lê Nguyễn

 

Bài Cùng Tác Giả:

0 Bình luận

Scroll Up